m.school › Dữ liệu nào dùng được trong phát triển sản phẩm › bài 4

Bài 4 · Một con số chỉ dùng được khi bạn biết nó đo cái gì và đo trên ai

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 137 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ hỏi được bốn câu về một con số trước khi dùng nó làm căn cứ. Chỉ ra được trong chính công ty bạn có hai cách đếm khác nhau cho cùng một cái tên. Nói được vì sao hai con số đặt cạnh nhau chưa chắc đã so sánh được với nhau.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Phòng kinh doanh đếm đơn chậm so với ngày đã hứa với khách, phòng kế hoạch đếm so với ngày xưởng nhận lệnh sản xuất. Theo bài, nên làm gì trong buổi họp?

  2. Câu 2. Một bản thử ghi «hàng lỗi ba mươi ba phần trăm», thực tế là một mẫu hỏng trên ba mẫu thử. Theo bài, cách viết an toàn hơn là gì?

  3. Câu 3. Một con số lấy ra từ mô hình chạy trên máy tính. Theo bài, con số đó đang trả lời câu hỏi nào?

  4. Câu 4. Một xưởng làm đồ dùng học sinh so doanh số quý này với quý liền trước. Theo bài, chỗ hở của cách so ấy là gì?

  5. Câu 5. Năm 2016, cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ cập nhật mức khẩu phần trên nhãn dinh dưỡng, khẩu phần kem đổi từ nửa cốc sang hai phần ba cốc. Điều rút ra là gì?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Chọn một số đo đang được nhắc thường xuyên trong công việc của bạn, loại mà nhiều người cùng dùng. Không mở bảng tính ra. Thay vào đó, đi hỏi riêng hai người ở hai phòng khác nhau một câu: số đo này được đếm ra sao, trường hợp nào tính vào và trường hợp nào loại ra. Ghi lại hai câu trả lời nguyên văn, rồi đặt cạnh nhau. Sau đó, với một con số cụ thể của số đo ấy trong báo cáo gần nhất, trả lời đủ bốn câu trong bảng tổng hợp, và đánh dấu câu nào bạn không tự trả lời được.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: hai câu trả lời của hai người lệch nhau ở ít nhất một chỗ, và bạn gọi tên được chỗ lệch đó; bạn trả lời được ít nhất ba trong bốn câu mà không phải đi hỏi thêm; và với câu còn lại, bạn biết phải hỏi ai. Dấu hiệu còn sai: hai câu trả lời giống hệt nhau tới từng chữ, thường là vì bạn hỏi gộp hai người cùng lúc nên người thứ hai nói theo người thứ nhất; hoặc bạn chỉ chép lại định nghĩa ghi trong phần mềm mà không hỏi người đang nhập liệu hằng ngày làm thế nào.

Lời giải mẫu. Bối cảnh dựng ra để minh hoạ: một xưởng cơ khí chế tạo theo dõi tỉ lệ hàng phải làm lại. Người ở xưởng đếm theo chi tiết: số chi tiết phải gia công lại chia cho số chi tiết đã gia công trong tháng. Người ở phòng chất lượng đếm theo lô: số lô có ít nhất một chi tiết phải làm lại, chia cho số lô đã kiểm. Một lô lớn chỉ hỏng vài chi tiết sẽ cho hai con số rất xa nhau. Bốn câu trả lời cho con số của phòng chất lượng: nó đếm lô chứ không đếm chi tiết; đơn vị là tỉ lệ với mẫu số là số lô đã kiểm; nó tính trên các lô đã được kiểm trong tháng, không tính các lô xuất thẳng; và nó thuộc về tháng vừa khép sổ, nên các lô bị khách trả về sau đó chưa có trong con số ấy.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bài trước nói về những dạng dữ liệu trông giống bằng chứng mà không phải. Bài này đi xuống một mức nữa, tới từng con số lẻ. Một con số rời khỏi bảng gốc của nó là một con số đã mất gần hết thông tin đi kèm, mà nhìn bề ngoài thì nó vẫn y nguyên. Bốn câu hỏi dưới đây là bốn phần thông tin ấy. Hỏi đủ bốn câu thì bạn biết con số đang cầm dùng được vào việc gì. Bài dừng ở bốn câu hỏi đó: không dạy cách chọn cỡ mẫu, không dạy phép kiểm định, và không đưa danh sách số đo mẫu cho một ngành nào.

1

Định nghĩa của một số đo phải được viết ra, nếu không thì hai phòng đếm theo hai kiểu

Một số đo có hai phần: cái tên của nó, và cách đếm ra nó. Cái tên thì ai cũng thuộc. Cách đếm thì thường không ai viết ra, và đó chính là chỗ hai phòng trong cùng một công ty cho ra hai con số khác nhau dưới cùng một cái tên.

Một bối cảnh dựng ra cho dễ hình dung: một nhà máy theo dõi số đơn hàng giao chậm. Phòng kinh doanh đếm đơn chậm so với ngày đã hứa với khách. Phòng kế hoạch đếm đơn chậm so với ngày xưởng nhận được trong lệnh sản xuất. Hai ngày ấy không trùng nhau, vì khoảng đệm giữa chúng là phần phòng kinh doanh giữ lại cho an toàn. Cả hai phòng đều đếm đúng theo cách của mình, hai con số vẫn khác nhau, và trong buổi họp thì người ta tranh nhau xem con số nào đúng thay vì hỏi hai con số ấy đang đếm cái gì.

Còn vài chỗ nữa cũng đẻ ra hai cách đếm cho một cái tên. Đơn giao thiếu một phần thì tính là chậm hay tính là đã giao. Đơn mà khách tự xin dời ngày thì có tính vào không. Đơn bị huỷ giữa chừng thì nằm ở mẫu số hay bị loại ra. Mỗi câu hỏi ấy đều có hai cách trả lời đều hợp lý, nên mỗi câu là một ngã rẽ.

Vì vậy định nghĩa phải được viết thành chữ, và viết ở chỗ người dùng con số đọc được, chứ không nằm trong trí nhớ của người lập bảng. Một định nghĩa đủ dùng nói được bốn điều: đếm cái gì, lấy mốc nào để so, trường hợp nào được tính vào, trường hợp nào bị loại ra.

Đi kèm là một luật quan trọng không kém: đã chốt một cách đếm thì giữ nguyên cách ấy qua các kỳ. Nới định nghĩa ra một chút để con số kỳ này đẹp hơn là tự làm hỏng cả chuỗi số của mình, vì từ đó về sau không kỳ nào so được với kỳ nào. Chốt theo hướng nào cũng được, miễn chốt rồi thì giữ; và khi buộc phải đổi thì ghi rõ ngày đổi ngay cạnh chuỗi số.

2

Đơn vị và cách quy đổi phải đi theo con số, tách rời ra thì con số đổi nghĩa

Con số đi một mình thì không đọc được. Nó cần đơn vị, và nếu nó là một tỉ lệ thì nó cần cả thứ mà nó được chia cho.

Tỉ lệ phần trăm là chỗ hay rơi mất mẫu số nhất. Câu «hàng lỗi hai phần trăm» chưa nói được gì cho tới khi biết hai phần trăm của cái gì: của số chiếc đã làm ra, của số lô, hay của số chiếc đã được mang đi kiểm. Ba cách tính ấy cho ba con số khác nhau trên cùng một lô hàng. Câu «tăng ba mươi phần trăm» cũng vậy: tăng so với kỳ trước, so với kế hoạch, hay so với cùng kỳ năm ngoái.

Có một trường hợp tỉ lệ gây hiểu nhầm nhiều hơn cả, là khi số lượng đem ra tính rất ít. Một mẫu hỏng trên ba mẫu thử thành ba mươi ba phần trăm, và con số ấy trông như một kết quả chắc chắn trong khi nó chỉ dựa trên ba lần thử. Cách viết an toàn ở đây là viết bằng số đếm: một trên ba. Người đọc nhìn thấy cả tử số lẫn mẫu số, và tự biết nên tin tới đâu.

Quy đổi là chỗ thứ hai. Dữ liệu quanh một sản phẩm đi qua nhiều đơn vị: chiếc, thùng, lô, mét, ki lô gam, giờ máy. Mỗi lần một con số được quy từ đơn vị này sang đơn vị khác là một lần nó có thể lệch, và phiền hơn là sau khi quy đổi thì phần thông tin cũ không lấy lại được. Số thùng quy ra số chiếc bằng một hệ số bình quân thì những thùng đóng thiếu đã biến mất khỏi con số.

Nguyên tắc rút ra: giữ con số ở đơn vị gốc càng lâu càng tốt, quy đổi ở bước cuối, và khi đã quy đổi thì ghi hệ số đã dùng ngay cạnh kết quả. Một bảng có ghi hệ số quy đổi thì người đọc sau còn tính ngược lại được; không ghi thì bảng ấy chỉ còn người lập ra nó mới dùng được.

Bốn phần thông tin đi kèm một con số, và chuyện gì mất đi khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc.Bốn phần. Một, đo cái gì: định nghĩa phải viết thành chữ, gồm đếm cái gì, lấy mốc nào để so, trường hợp nào được tính vào, trường hợp nào bị loại ra; chốt một cách đếm rồi thì giữ nguyên cách ấy qua các kỳ. Hai, theo đơn vị nào: tỉ lệ phải đi kèm thứ nó được chia cho, số lượng ít thì viết bằng số đếm, giữ con số ở đơn vị gốc càng lâu càng tốt và ghi hệ số quy đổi ngay cạnh kết quả. Ba, trên ai, trên bao nhiêu, trên cái gì: một tỉ lệ hài lòng tính trên những người chịu ngồi trả lời phiếu chứ không phải trên mọi khách, luôn đặt số lượng ngay cạnh tỉ lệ, và con số lấy từ một mô hình chạy trên máy tính là con số đo trên mô hình ấy. Bốn, thuộc khoảng thời gian nào: hai kỳ chỉ so được khi cùng độ dài, mặt hàng có mùa thì so với cùng kỳ năm trước. Khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc, nó đã mất gần hết thông tin đi kèm mà nhìn bề ngoài thì vẫn y nguyên. BỐN PHẦN ĐI KÈM MỘT CON SỐ hỏi đủ bốn câu thì biết con số đang cầm dùng được vào việc gì 1 Đo cái gì Định nghĩa phải viết thànhchữ: đếm cái gì, lấy mốcnào để so, trường hợp nàođược tính vào, trường hợpnào bị loại ra. Chốt một cách đếm rồi thìgiữ nguyên cách ấy qua cáckỳ. 2 Theo đơn vị nào Tỉ lệ phải đi kèm thứ nóđược chia cho. Số lượng ítthì viết bằng số đếm: mộttrên ba. Giữ con số ở đơn vị gốccàng lâu càng tốt, quy đổiở bước cuối, và ghi hệ sốđã dùng ngay cạnh kết quả. 3 Trên ai, trên baonhiêu, trên cái gì Một tỉ lệ hài lòng tínhtrên những người chịu ngồitrả lời phiếu, chứ khôngphải trên mọi khách. Luônđặt số lượng ngay cạnh tỉlệ. Con số lấy từ một mô hìnhchạy trên máy tính là consố đo trên mô hình ấy,không phải trên sản phẩmthật. 4 Thuộc khoảng thời giannào Hai kỳ chỉ so được khichúng cùng độ dài. Mặt hàng có mùa thì so vớicùng kỳ năm trước, hoặcnhìn một chuỗi nhiều kỳliên tiếp thay vì chỉ nhìnhai điểm. Khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc Một con số rời khỏi bảng gốc của nó là một con số đã mất gần hết thôngtin đi kèm, mà nhìn bề ngoài thì nó vẫn y nguyên. Bốn phần thông tin đi kèm một con số, và chuyện gì mất đi khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc.Bốn phần. Một, đo cái gì: định nghĩa phải viết thành chữ, gồm đếm cái gì, lấy mốc nào để so, trường hợp nào được tính vào, trường hợp nào bị loại ra; chốt một cách đếm rồi thì giữ nguyên cách ấy qua các kỳ. Hai, theo đơn vị nào: tỉ lệ phải đi kèm thứ nó được chia cho, số lượng ít thì viết bằng số đếm, giữ con số ở đơn vị gốc càng lâu càng tốt và ghi hệ số quy đổi ngay cạnh kết quả. Ba, trên ai, trên bao nhiêu, trên cái gì: một tỉ lệ hài lòng tính trên những người chịu ngồi trả lời phiếu chứ không phải trên mọi khách, luôn đặt số lượng ngay cạnh tỉ lệ, và con số lấy từ một mô hình chạy trên máy tính là con số đo trên mô hình ấy. Bốn, thuộc khoảng thời gian nào: hai kỳ chỉ so được khi cùng độ dài, mặt hàng có mùa thì so với cùng kỳ năm trước. Khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc, nó đã mất gần hết thông tin đi kèm mà nhìn bề ngoài thì vẫn y nguyên. BỐN PHẦN hỏi đủ bốn câu thì biết con số đangcầm dùng được vào việc gì 1 Đo cái gì Định nghĩa phải viết thànhchữ: đếm cái gì, lấy mốcnào để so, trường hợp nàođược tính vào, trường hợpnào bị loại ra. Chốt một cách đếm rồi thìgiữ nguyên cách ấy qua cáckỳ. 2 Theo đơn vị nào Tỉ lệ phải đi kèm thứ nóđược chia cho. Số lượng ítthì viết bằng số đếm: mộttrên ba. Giữ con số ở đơn vị gốccàng lâu càng tốt, quy đổiở bước cuối, và ghi hệ sốđã dùng ngay cạnh kết quả. 3 Trên ai, trên baonhiêu, trên cái gì Một tỉ lệ hài lòng tínhtrên những người chịu ngồitrả lời phiếu, chứ khôngphải trên mọi khách. Luônđặt số lượng ngay cạnh tỉlệ. Con số lấy từ một mô hìnhchạy trên máy tính là consố đo trên mô hình ấy,không phải trên sản phẩmthật. 4 Thuộc khoảng thờigian nào Hai kỳ chỉ so được khichúng cùng độ dài. Mặt hàng có mùa thì so vớicùng kỳ năm trước, hoặcnhìn một chuỗi nhiều kỳliên tiếp thay vì chỉ nhìnhai điểm. Khi con số bị chép rakhỏi bảng gốc Một con số rời khỏi bảng gốccủa nó là một con số đã mất gầnhết thông tin đi kèm, mà nhìnbề ngoài thì nó vẫn y nguyên.
Hình 1. Bốn phần thông tin đi kèm một con số, và chuyện gì mất đi khi con số bị chép ra khỏi bảng gốc.
3

Con số này được tính trên ai, trên bao nhiêu, và trên cái gì

Một con số bao giờ cũng được tính trên một tập nào đó: một nhóm người, một lô hàng, một tập đơn, một tập mẫu thử. Tập ấy phải được nói ra cùng với con số, vì đổi tập thì con số đổi theo.

Câu hỏi thứ nhất là tính trên ai. Một tỉ lệ hài lòng được tính trên những người chịu ngồi trả lời phiếu, chứ không phải trên mọi khách. Một tỉ lệ hàng hỏng được tính trên những chiếc đã được mang đi kiểm, chứ không phải trên mọi chiếc đã làm ra. Cả hai nhóm ấy đều hợp lệ. Chúng chỉ không phải nhóm mà người đọc báo cáo đang hình dung trong đầu, và không ai nói cho người đọc biết điều đó.

Câu hỏi thứ hai là tính trên bao nhiêu. Một tỉ lệ che mất quy mô, nên một con số rất đẹp tính trên một nhúm trường hợp trông ngang hàng với một con số tính trên cả nghìn trường hợp. Cách chữa thì đơn giản: luôn đặt số lượng ngay cạnh tỉ lệ, trong cùng một ô.

Câu hỏi thứ ba là tính trên cái gì, và đây là chỗ hay bị bỏ qua nhất trong việc kỹ thuật. Một con số lấy ra từ một mô hình chạy trên máy tính là con số đo trên mô hình ấy, không phải trên sản phẩm thật. Nó có giá trị, nhưng nó đang trả lời câu hỏi mô hình cho ra gì, chứ chưa trả lời câu hỏi lô hàng thật sẽ sống ra sao. Hai câu ấy chỉ gặp nhau khi có người đem mẫu vật lý ra thử rồi đối chiếu lại.

Thêm một điều nên nhớ khi đặt hai con số cạnh nhau: phép đo nào cũng có sai số của nó. Hai con số chênh nhau ít hơn sai số của chính phép đo thì chưa phân định được bên nào hơn bên nào. Đưa hai con số ấy ra mà không nói gì thêm là để người nghe tưởng đã có câu trả lời, trong khi thứ đang có mới chỉ là hai phép đo chưa tách được nhau.

4

Con số nào cũng thuộc về một khoảng thời gian, và hai kỳ không phải lúc nào cũng so được

Phần cuối cùng của một con số là khoảng thời gian nó thuộc về. Con số không có khoảng thời gian thì không đọc được, vì không biết nó nói về một tuần, một quý, hay cả chục năm cộng lại.

Khoảng thời gian còn quyết định chuyện so sánh. Hai kỳ chỉ so được khi chúng cùng độ dài. Tháng Hai ngắn hơn tháng Ba, và một tháng có kỳ nghỉ dài thì số ngày làm việc ít hơn hẳn một tháng không nghỉ, nên hai con số tổng của hai tháng ấy vốn đã không nằm trên cùng một thang.

Rồi tới mùa vụ. Nhiều mặt hàng có nhịp lên xuống đều đặn trong năm: đồ dùng học sinh trước mùa tựu trường, quạt và thiết bị làm mát vào mùa nóng, bánh kẹo và đồ biếu quanh dịp Tết. Với những mặt hàng ấy, so quý này với quý liền trước thì phần lớn chênh lệch đọc được chỉ là mùa, chứ không phải việc mình vừa làm. Cách so hợp lý hơn là so với cùng kỳ năm trước, hoặc nhìn một chuỗi nhiều kỳ liên tiếp thay vì chỉ nhìn hai điểm.

Có một chỗ nữa ít người để ý: con số của kỳ gần nhất thường chưa chín. Đơn trả hàng còn về muộn, hoá đơn chưa vào hết, ca bảo hành của tháng này còn đang mở. Vì vậy kỳ gần nhất hay trông khá hơn thực tế, rồi vài tuần sau nó tự xấu đi khi số liệu về đủ. Ai đọc báo cáo định kỳ cũng nên biết chuỗi số của mình cần bao lâu mới ổn định, và tránh ra quyết định dựa vào riêng điểm cuối cùng.

Cuối cùng, khi so hai kỳ thì nhớ lại mục một: cả định nghĩa lẫn cách đếm phải giữ nguyên giữa hai kỳ ấy. Đổi cách đếm giữa chừng rồi vẫn vẽ hai cột cạnh nhau là đem hai thứ khác nhau ra so với nhau dưới một cái tên chung.

Bảng tổng hợp bốn câu phải hỏi trước khi dùng một con số

Câu hỏiHỏi cụ thể là gìDấu hiệu con số đang thiếu phần nàyChuyện xảy ra khi thiếu
Nó đo cái gìcách đếm đã được viết ra chưa: đếm cái gì, mốc so là gì, tính vào những trường hợp nào, loại ra những trường hợp nàokhông ai chỉ được chỗ ghi định nghĩa, mỗi người giải thích một kiểuhai phòng ra hai con số dưới cùng một cái tên, rồi tranh nhau xem ai đúng
Nó tính theo đơn vị nàođơn vị là gì; nếu là tỉ lệ thì mẫu số là gì; đã quy đổi qua hệ số nàocon số đứng một mình, hoặc có phần trăm mà không có mẫu sốcon số được đọc theo một mẫu số khác với mẫu số đã dùng để tính nó
Nó tính trên ai và trên bao nhiêutập được tính là tập nào, gồm bao nhiêu trường hợp, bỏ sót những aichỉ thấy tỉ lệ, không thấy số lượng đi kèmmột tỉ lệ tính trên vài trường hợp được đọc ngang với tỉ lệ tính trên cả nghìn
Nó thuộc về khoảng thời gian nàotừ ngày nào tới ngày nào, kỳ đã đủ chín chưa, kỳ đem ra so có cùng độ dài và cùng mùa khôngkhông có khoảng thời gian, hoặc hai cột cạnh nhau khác độ dàichênh lệch do mùa vụ hoặc do số liệu chưa về đủ bị đọc thành kết quả của việc mình làm

Chụp lại bảng này. Bốn câu ở cột đầu hỏi được trong khoảng một phút, ngay lúc con số vừa hiện lên màn hình, và chúng không đòi bạn phải biết gì về thống kê.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

So hai con số của hai phòng mà không hỏi hai phòng có đếm giống nhau không. Hai bảng cùng mang một tiêu đề được đặt cạnh nhau, rồi cả buổi họp dành để giải thích chỗ lệch. Người ta làm vậy vì cùng một cái tên thì ai cũng ngầm hiểu là cùng một thứ, và vì hỏi lại định nghĩa trước mặt đông người nghe như nghi ngờ người lập bảng. Hậu quả rơi vào chính buổi họp: thời gian dồn vào việc chọn con số nào đáng tin, trong khi cả hai đều đáng tin theo cách đếm của nó, và câu hỏi thật thì chưa ai chạm tới. Cách tránh là trước khi so, mỗi bên viết ra một câu nói rõ mình đếm cái gì và loại ra cái gì, rồi đặt hai câu ấy cạnh nhau trước khi đặt hai con số cạnh nhau.

Đọc một con số không có khoảng thời gian đi kèm. Một con số được nhắc trong cuộc họp hoặc chép lên trang chiếu mà không ai hỏi nó của khoảng nào. Người ta làm vậy vì lúc lấy con số ra thì khoảng thời gian là chuyện hiển nhiên với người lấy, và vài tuần sau thì nó không còn hiển nhiên với ai nữa. Hậu quả rơi vào người dùng lại con số đó: họ đem một con số của cả năm so với một con số của một quý, hoặc đem con số của mùa cao điểm làm mức chuẩn cho cả năm. Cách tránh là viết khoảng thời gian dính liền với con số, ngay trong cùng một dòng, chứ không để ở tiêu đề bảng rồi mất đi khi con số bị chép đi chỗ khác.

Tin một con số vì nó có nhiều chữ số sau dấu phẩy. Một tỉ lệ ghi tới hai ba chữ số lẻ trông cẩn thận hơn hẳn một con số tròn, nên nó ít bị hỏi lại. Người ta làm vậy vì công cụ tính toán tự in ra bấy nhiêu chữ số, và không ai nghĩ tới việc cắt bớt. Hậu quả là độ chính xác bề ngoài của cách trình bày bị đọc thành độ tin cậy của phép đo, trong khi hai thứ đó không liên quan gì tới nhau: một phép đo thô vẫn in ra được rất nhiều chữ số lẻ. Cách tránh là làm tròn con số về đúng mức mà phép đo cho phép, và nếu không biết phép đo cho phép tới đâu thì đó mới là điều đáng đi hỏi.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là một quy định có thật, công bố công khai, bạn tra lại được.

Trên nhãn dinh dưỡng của thực phẩm đóng gói bán tại Hoa Kỳ, lượng năng lượng được ghi theo một khẩu phần. Khẩu phần ấy không phải lời khuyên nên ăn bao nhiêu. Nó là mức người ta thường ăn trong một lần, rút ra từ các cuộc điều tra về thói quen ăn uống.

Mức này đặt từ năm 1993, dựa chủ yếu vào hai cuộc điều tra của các năm 1977 tới 1978 và 1987 tới 1988. Năm 2016, cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ cập nhật các mức ấy theo dữ liệu điều tra của các năm 2003 tới 2008. Một khẩu phần kem đổi từ nửa cốc sang hai phần ba cốc, theo đơn vị cốc của Hoa Kỳ. Nhiều gói hàng trước ghi là nhiều khẩu phần thì nay phải ghi là một khẩu phần.

Thức ăn trong gói không đổi gì. Con số in trên nhãn thì đổi, vì thứ nó được chia cho đã đổi.

Điều rút ra: muốn đọc một con số, bạn phải biết nó được chia cho cái gì, và cái đó được định nghĩa từ bao giờ.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

«Phát triển sản phẩm hướng thị trường», TS. Trần Anh Tuấn, chương 25 «Đóng một dự án, đo lại sức đổi mới của mình» — vì sao định nghĩa của một số đo phải được giữ nguyên qua các kỳ, và vì sao nới định nghĩa ra cho con số đẹp lên là tự làm hỏng chuỗi số của chính mình.

Bên ngoài

Trang hướng dẫn người tiêu dùng về khẩu phần ghi trên nhãn dinh dưỡng, của cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ, đăng tại fda.gov trong mục dành cho người tiêu dùng — nguồn của phần ví dụ; đọc để thấy một con số trên nhãn phụ thuộc vào một định nghĩa được đặt ra từ trước đó mấy chục năm.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook