m.school › Dữ liệu nào dùng được trong phát triển sản phẩm › bài 5

Bài 5 · Nhìn lại: dựng bản kiểm kê dữ liệu cho sản phẩm của mình

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 137 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ gộp được bốn bài trước thành một đường đi, xếp theo đúng trình tự mà công việc diễn ra khi bạn cần trả lời một câu hỏi. Dựng được một bản kiểm kê dữ liệu một trang cho sản phẩm của mình, và nói được vì sao nó gồm đúng những cột đó. Gọi tên được ba lúc dữ liệu đang có không trả lời được và bạn phải đi thu dữ liệu mới.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Theo bài, khi làm thật thì chặng đầu tiên của một lần đi tìm câu trả lời là gì?

  2. Câu 2. Theo bài, khi đọc lại bản kiểm kê dữ liệu thì thứ đáng xem là gì?

  3. Câu 3. Một xưởng may muốn biết người mặc thấy khó chịu ở chỗ nào sau vài lần giặt. Theo bài, câu hỏi này thuộc lúc nào trong ba lúc phải đi thu dữ liệu mới?

  4. Câu 4. Theo bài, việc đi thu dữ liệu mới ở quy mô nhỏ có thể là gì?

  5. Câu 5. Theo đoạn nói thẳng về giới hạn ở cuối bài, đi hết năm bài thì người học dừng lại ở đâu?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Dựng bản kiểm kê dữ liệu một trang cho một món hàng mà công ty bạn đang bán, theo sáu điều ở mục 2. Gói việc này trong một buổi, gặp ít nhất ba người thuộc ba bộ phận khác nhau, và ghi cả những nguồn không ở dạng bảng số. Xong thì làm thêm hai việc. Việc thứ nhất: khoanh các ô còn trống và viết cạnh mỗi ô một câu nói vì sao nó trống. Việc thứ hai: với mỗi ô trống, đánh dấu nó thuộc lúc nào trong ba lúc ở mục 3, hoặc ghi là nó không thuộc lúc nào mà chỉ là chưa ai đi lấy.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: bản kiểm kê có ít nhất một bộ dữ liệu kể lại chứ không chỉ toàn bảng số; có ít nhất hai bộ mà nhóm làm sản phẩm chưa từng mở trong mười hai tháng qua; và bạn phân biệt được ô trống vì chưa ai đi lấy với ô trống vì dữ liệu ấy chưa từng tồn tại. Hai loại ô trống ấy dẫn tới hai việc hoàn toàn khác nhau. Dấu hiệu còn sai: bản kiểm kê không có ô trống nào, thường là vì bạn chỉ ghi những nguồn mình đã biết; hoặc mọi ô trống đều được xếp vào loại phải đi thu dữ liệu mới, trong khi phần lớn chúng chỉ cần xin quyền đọc một nguồn đang nằm ở phòng bên cạnh.

Lời giải mẫu. Bối cảnh dựng ra để minh hoạ: một xưởng may hàng dệt kim nhãn riêng. Ô trống thứ nhất là lý do khách đổi trả: dữ liệu có tồn tại, nằm trong phần mềm bán hàng của bộ phận kinh doanh, chỉ là chưa ai xin quyền đọc. Đây là ô trống rẻ, lấp trong một tuần. Ô trống thứ hai là chuyện người mặc thấy khó chịu ở đâu sau vài lần giặt: không nguồn nào trong xưởng có, và nó thuộc lúc thứ hai ở mục 3, vì đó là câu hỏi vì sao. Ô trống thứ ba là phản ứng với một kiểu cổ áo xưởng chưa từng làm: thuộc lúc thứ nhất, phải may vài chiếc rồi đưa cho người mặc thử. Thứ tự nên làm là từ ô rẻ nhất đi lên.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bài cuối không thêm khái niệm nào. Nó đặt bốn bài trước vào đúng trình tự của công việc, rồi gom chúng vào một trang giấy mà bạn giữ được và mở lại được. Sau đó nó nói ba lúc dữ liệu đang có chịu thua, cùng một việc nhỏ làm được ngay trong tuần này. Cuối bài là phần nói thẳng về giới hạn của lớp: lớp dừng ở đâu, và phần nào thì tuỳ việc của bạn.

1

Đặt bốn bài trước vào đúng trình tự của công việc, từ lúc có một quyết định đang chờ

Bốn bài trước đi theo thứ tự khái niệm: bản đồ các nguồn dấu vết quanh một món hàng, cách nối câu hỏi của mình với loại dữ liệu hợp với nó, những dạng trông giống bằng chứng mà không phải, và bốn câu phải hỏi về một con số. Khi làm thật, chúng đến theo một trật tự khác hẳn. Trật tự ấy như sau.

Chặng thứ nhất là lúc có một quyết định đang chờ. Trước khi mở bất cứ bảng nào, việc phải làm là viết câu hỏi ra giấy cho đủ ba phần: hỏi về ai, muốn biết điều gì, trong khoảng thời gian nào. Rồi hình dung trước xem lời đáp sẽ ở dạng nào. Đây là việc của bài 2, và nó là chặng hay bị bỏ qua nhất, vì nó không giống đang làm việc.

Chặng thứ hai là lúc đi xem mình đang có gì. Bây giờ mới mở tấm bản đồ của bài 1: ba chặng mà dấu vết sinh ra, tức là trước lúc bắt tay vào làm, trong lúc làm, và sau khi hàng đã bán; rồi tới hai hình dạng, đếm được và kể lại. Chặng này thường phát hiện ra hai tới ba nguồn đã nằm sẵn trong công ty mà nhóm chưa từng mở.

Chặng thứ ba là lúc soi lại thứ vừa gom được. Trước khi tin, hãy đi qua bốn dạng của bài 3: số đo chỉ còn để trưng ra, dữ liệu chỉ còn phần đã trụ lại, số đo đứng thay cho thứ khác, và số bình quân gộp hai nhóm khác hẳn nhau. Chặng này không bỏ bớt dữ liệu, nó chỉ dán nhãn.

Chặng thứ tư là lúc cầm từng con số lên. Với những con số sẽ đi vào bản trình bày, hỏi đủ bốn câu của bài 4: nó đo cái gì, theo đơn vị nào, trên ai và trên bao nhiêu, thuộc khoảng thời gian nào. Con số nào không qua được bốn câu ấy thì để lại, đừng mang ra họp.

Chặng thứ năm là lúc quyết, và ghi lại mình đã dựa vào đâu. Ghi một đoạn ngắn: quyết định là gì, dựa trên nguồn nào, và phần nào của câu hỏi vẫn còn bỏ trống. Đoạn ấy là thứ cứu bạn sáu tháng sau, khi có người hỏi vì sao hồi đó lại chọn như vậy.

Nhìn theo thứ tự này thì thấy một điều đáng để ý: ba trong năm chặng không đòi thêm một dòng dữ liệu nào. Chúng chỉ đòi người ta dừng lại và hỏi một câu.

2

Bản kiểm kê dữ liệu một trang gồm những cột nào, và vì sao đúng những cột đó

Bản kiểm kê dữ liệu là một trang giấy liệt kê những bộ dữ liệu đang tồn tại quanh một sản phẩm, kèm vài điều cần biết về từng bộ. Nó không phải một biểu mẫu để điền cho đủ ô. Nó là một cách nghĩ, và mỗi điều ghi trên đó trả lời một câu hỏi bạn đã gặp ở bốn bài trước. Chúng tôi mô tả nó bằng câu, để bạn tự kẻ theo cách hợp với công ty mình. Dưới đây gọi chúng là sáu điều cần ghi, vì xếp thành cột hay thành dòng là tuỳ bạn.

Điều thứ nhất cần ghi là tên bộ dữ liệu và người đang giữ nó. Nghe như chuyện hành chính, nhưng phần lớn thời gian đi tìm dữ liệu trong một công ty thật ra là thời gian đi tìm xem phải hỏi ai.

Điều thứ hai là bộ dữ liệu ấy được sinh ra để làm gì. Bài 1 đã nói: thứ bạn lấy về dùng thì gần như luôn được lập ra cho công việc của một phòng khác, nên mục đích gốc quyết định nó ghi gì và bỏ gì.

Điều thứ ba là nó nói về ai, và bỏ sót ai. Đây là chỗ gom cả bài 3 lẫn bài 4 vào một dòng. Ô này khó điền nhất, và chính vì khó nên nó đáng giá nhất.

Điều thứ tư là khoảng thời gian nó phủ, và nó còn đang được cập nhật hay đã dừng. Một bộ dữ liệu đã ngừng cập nhật vẫn dùng được, miễn bạn biết nó dừng từ bao giờ.

Điều thứ năm là câu hỏi công việc nào nó trả lời được. Viết thành một câu đầy đủ, chứ không viết một nhãn chung chung. Dòng này nối thẳng bản kiểm kê với bài 2.

Điều cuối cùng là lần gần nhất nhóm làm sản phẩm mở nó ra. Cột này rẻ tới mức buồn cười, mà nó chỉ ra ngay những nguồn đang bị bỏ quên.

Sáu điều, không thêm. Thêm nữa thì trang giấy biến thành một việc phải duy trì, và việc phải duy trì thì sẽ bị bỏ sau vài tháng. Và khi đọc lại bản kiểm kê, thứ đáng xem không phải các ô đã điền, mà các ô còn trống cùng lý do chúng trống.

Năm chặng của một lần đi tìm câu trả lời, và bài nào của lớp nằm ở chặng nào.Chặng một, có một quyết định đang chờ: viết câu hỏi ra giấy cho đủ ba phần, hỏi về ai, muốn biết điều gì, trong khoảng thời gian nào, rồi hình dung trước xem lời đáp sẽ ở dạng nào; đây là việc của bài 2 và là chặng hay bị bỏ qua nhất. Chặng hai, đi xem mình đang có gì: mở tấm bản đồ ba chặng dấu vết sinh ra rồi tới hai hình dạng, đếm được và kể lại; việc của bài 1. Chặng ba, soi lại thứ vừa gom được: đi qua bốn dạng trông giống bằng chứng mà không phải, chặng này chỉ dán nhãn chứ không bỏ bớt dữ liệu; việc của bài 3. Chặng bốn, cầm từng con số lên: hỏi đủ bốn câu về con số; việc của bài 4. Chặng năm, quyết và ghi lại mình đã dựa vào đâu: quyết định là gì, dựa trên nguồn nào, phần nào của câu hỏi vẫn còn bỏ trống. Ba trong năm chặng không đòi thêm một dòng dữ liệu nào. NĂM CHẶNG CỦA MỘT LẦN ĐI TÌM thứ tự khi làm thật, và bài nào của lớp nằm ở chặng nào CHẶNG CỦA CÔNG VIỆC BÀI NÀO 1 Có một quyết định đang chờ Viết câu hỏi ra giấy cho đủ ba phần: hỏi về ai,muốn biết điều gì, trong khoảng thời gian nào.Rồi hình dung trước xem lời đáp sẽ ở dạng nào. Chặng hay bị bỏ qua nhất, vì nó không giốngđang làm việc. Bài 2 2 Đi xem mình đang có gì Mở tấm bản đồ: ba chặng mà dấu vết sinh ra, tứclà trước lúc bắt tay vào làm, trong lúc làm, vàsau khi hàng đã bán; rồi tới hai hình dạng, đếmđược và kể lại. Bài 1 3 Soi lại thứ vừa gom được Đi qua bốn dạng trông giống bằng chứng mà khôngphải. Chặng này không bỏ bớt dữ liệu, nó chỉ dánnhãn. Bài 3 4 Cầm từng con số lên Hỏi đủ bốn câu: nó đo cái gì, theo đơn vị nào,trên ai và trên bao nhiêu, thuộc khoảng thờigian nào. Con số nào không qua được bốn câu ấy thì đểlại. Bài 4 5 Quyết, và ghi lại mình đã dựa vào đâu Ghi một đoạn ngắn: quyết định là gì, dựa trênnguồn nào, và phần nào của câu hỏi vẫn còn bỏtrống. Ba trong năm chặng không đòi thêm một dòng dữ liệu nào. Chúng chỉ đòingười ta dừng lại và hỏi một câu. Năm chặng của một lần đi tìm câu trả lời, và bài nào của lớp nằm ở chặng nào.Chặng một, có một quyết định đang chờ: viết câu hỏi ra giấy cho đủ ba phần, hỏi về ai, muốn biết điều gì, trong khoảng thời gian nào, rồi hình dung trước xem lời đáp sẽ ở dạng nào; đây là việc của bài 2 và là chặng hay bị bỏ qua nhất. Chặng hai, đi xem mình đang có gì: mở tấm bản đồ ba chặng dấu vết sinh ra rồi tới hai hình dạng, đếm được và kể lại; việc của bài 1. Chặng ba, soi lại thứ vừa gom được: đi qua bốn dạng trông giống bằng chứng mà không phải, chặng này chỉ dán nhãn chứ không bỏ bớt dữ liệu; việc của bài 3. Chặng bốn, cầm từng con số lên: hỏi đủ bốn câu về con số; việc của bài 4. Chặng năm, quyết và ghi lại mình đã dựa vào đâu: quyết định là gì, dựa trên nguồn nào, phần nào của câu hỏi vẫn còn bỏ trống. Ba trong năm chặng không đòi thêm một dòng dữ liệu nào. NĂM CHẶNG thứ tự khi làm thật, và bài nào củalớp nằm ở chặng nào BÀI 2 1 Có một quyết địnhđang chờ Viết câu hỏi ra giấy chođủ ba phần: hỏi về ai,muốn biết điều gì, trongkhoảng thời gian nào. Rồihình dung trước xem lờiđáp sẽ ở dạng nào. Chặng hay bị bỏ quanhất, vì nó không giốngđang làm việc. BÀI 1 2 Đi xem mình đang cógì Mở tấm bản đồ: ba chặng màdấu vết sinh ra, tức làtrước lúc bắt tay vào làm,trong lúc làm, và sau khihàng đã bán; rồi tới haihình dạng, đếm được và kểlại. BÀI 3 3 Soi lại thứ vừa gomđược Đi qua bốn dạng trônggiống bằng chứng mà khôngphải. Chặng này không bỏ bớt dữliệu, nó chỉ dán nhãn. BÀI 4 4 Cầm từng con số lên Hỏi đủ bốn câu: nó đo cáigì, theo đơn vị nào, trênai và trên bao nhiêu,thuộc khoảng thời giannào. Con số nào không qua đượcbốn câu ấy thì để lại. 5 Quyết, và ghi lạimình đã dựa vào đâu Ghi một đoạn ngắn: quyếtđịnh là gì, dựa trên nguồnnào, và phần nào của câuhỏi vẫn còn bỏ trống. Ba trong năm chặng không đòithêm một dòng dữ liệu nào.Chúng chỉ đòi người ta dừng lạivà hỏi một câu.
Hình 1. Năm chặng của một lần đi tìm câu trả lời, và bài nào của lớp nằm ở chặng nào.
3

Ba lúc dữ liệu đang có không trả lời được, và bạn phải đi thu dữ liệu mới

Bản kiểm kê làm xong thì thường lộ ra vài câu hỏi mà không dòng nào trên trang giấy chạm tới. Có ba lúc như vậy, và nhận ra sớm thì đỡ mất nhiều tháng.

Lúc thứ nhất: thứ bạn hỏi chưa từng tồn tại. Một sản phẩm chưa ai bán, một cách dùng chưa ai thử, một mức giá chưa ai chào. Hồ sơ cũ chỉ lưu lại những món đã từng được đem ra chào bán, nên chúng chịu thua trước câu hỏi này, và đào sâu thêm cũng không ra. Đường đi là tạo dấu vết mới: dựng một bản mẫu còn thô rồi đặt nó vào tay người dùng thật, và ghi lại họ xoay xở với nó ra sao.

Lúc thứ hai: câu hỏi của bạn bắt đầu bằng chữ vì sao. Một dấu vết chỉ lưu lại sự việc, nên nó cho biết chuyện gì đã diễn ra và diễn ra mấy lần. Nó không tự nói lý do. Muốn có lý do thì phải sinh ra một loại dấu vết khác: ngồi xem người ta làm, nghe họ kể lại, ghi nguyên văn chứ không ghi phần mình hiểu ra.

Lúc thứ ba: nhóm người bạn cần biết thì không hiện ra ở bất cứ đâu trong hệ thống đang chạy. Người đã bỏ đi, người cầm sản phẩm lên rồi đặt xuống, người dùng nó hằng ngày nhưng không phải người đi mua. Họ không có trong sổ bán hàng, không có trong hồ sơ bảo hành, không có trong đánh giá trên sàn. Đường đi là ra chỗ họ đang ở: cửa hàng, xưởng của khách, nhà của người dùng.

Và một điều cần nói rõ, vì nó hay chặn người ta ngay từ đầu. Thu dữ liệu mới không nhất thiết là một dự án. Mức nhỏ nhất của nó là năm cuộc nói chuyện, hoặc một buổi ngồi xem người ta dùng sản phẩm, hoặc một bản mẫu làm bằng bìa đưa cho ba người thử. Việc đó mất một hai ngày, không cần ngân sách, và nó thường đổi hướng cuộc bàn bạc nhiều hơn một tháng ngồi phân tích lại các bảng cũ.

4

Một việc làm được ngay trong tuần, lớp nên học tiếp, và chỗ lớp này dừng lại

Một việc làm được trong tuần, không cần ngân sách. Lấy một món hàng mà công ty bạn đang bán ngoài thị trường. Dành một buổi, gặp ít nhất ba người thuộc ba bộ phận khác nhau, mỗi người một câu: về món hàng này thì anh hoặc chị đang lưu lại những gì. Ghi thẳng vào bản kiểm kê theo sáu điều ở mục 2. Hết buổi, khoanh lại những ô còn trống, rồi chọn một ô trống rẻ nhất để lấp. Rẻ nhất thường nghĩa là nguồn ấy đã tồn tại ở một phòng khác và chỉ cần xin quyền đọc.

Học tiếp lớp nào. Khi câu hỏi của bạn rơi vào lúc thứ hai hoặc lúc thứ ba của mục 3, tức là cần hiểu người dùng chứ không cần thêm bảng số, thì học lớp Làm sao biết người ta thật sự cần gì, mã NC-01. Lớp đó dạy cách đi tìm hiểu người dùng, và nói kỹ vế người ta nói gì so với người ta làm gì. Phần trợ lý máy làm được gì trên chính đống dữ liệu bạn vừa kiểm kê thì trường dành cho một lớp riêng, mang tên lớp Trợ lý AI giúp được việc gì, và không giúp được việc gì, mã AI-02. Lớp đó chưa mở, và sẽ mở sau.

Giới hạn của lớp này, nói thẳng. Thứ lớp này dạy là một cách nghĩ: quanh một món hàng thì dấu vết ghi lại được gồm những loại gì, và mỗi loại trả lời được câu hỏi nào. Lớp không chỉ cho bạn thao tác trên bất cứ phần mềm nào, không dựng quy trình xử lý số liệu riêng cho một ngành, và không phát mẫu bảng nào để bạn điền vào là chạy. Đi hết năm bài, bạn biết phải hỏi những gì về một bộ dữ liệu trước khi đặt lòng tin vào nó. Còn dựng cho ra một cách làm dữ liệu hợp với đúng ngành của bạn thì tuỳ công việc của bạn, và phần đó nằm ngoài lớp này.

Bảng tổng hợp cả lớp: mỗi bài trả lời câu hỏi nào, và mang theo được gì

BàiCâu hỏi bài đó trả lờiThứ mang theo được
Bài 1 · bản đồ các nguồncông ty tôi đang có những dấu vết nào về sản phẩm này, và chúng nằm ở đâucách xếp theo ba chặng trước khi làm, trong khi làm, sau khi bán; và bốn câu phải hỏi trước khi lấy về dùng một bộ số liệu do phòng khác lập ra
Bài 2 · nối câu hỏi với nguồncâu hỏi tôi đang có thì loại dữ liệu nào trả lời được, loại nào khôngcách viết câu hỏi cho đủ ba phần; phép thử nói trước hình dạng câu trả lời; nguyên tắc ghép ba nguồn độc lập
Bài 3 · bốn dạng đánh lừabộ số tôi đang cầm có dạng nào trông giống bằng chứng mà không phảibốn dạng và bốn câu hỏi nhận ra chúng, hỏi được ngay trong buổi họp
Bài 4 · soi từng con sốcon số này dùng được vào việc gì, và nó đang thiếu phần thông tin nàobốn câu: đo cái gì, đơn vị nào, trên ai và trên bao nhiêu, thuộc khoảng thời gian nào
Bài 5 · kiểm kê và đi thu mớitôi bắt đầu từ đâu, và lúc nào thì phải đi thu dữ liệu mớibản kiểm kê sáu điều; năm chặng của một lần đi tìm câu trả lời; ba lúc dữ liệu cũ chịu thua

Chụp lại bảng này. Khi quên, đọc cột giữa trước: nó cho biết câu hỏi đang vướng của bạn thuộc về bài nào.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Dựng bản kiểm kê xong rồi để đó, không ai mở lại. Nhóm dành một buổi làm rất nghiêm túc, treo kết quả lên, và sáu tháng sau không ai nhớ tệp ấy nằm ở đâu. Người ta làm vậy vì bản kiểm kê được coi là một việc phải làm xong, chứ không phải một thứ dùng hằng ngày. Hậu quả rơi vào chính nhóm: lần sau cần dữ liệu, họ lại đi hỏi vòng quanh từ đầu, và lại phát hiện ra đúng những nguồn đã ghi trong tệp cũ. Cách tránh là gắn bản kiểm kê vào một việc có sẵn nhịp, chẳng hạn mở nó ra mỗi lần bắt đầu một dự án mới hoặc mỗi lần chuẩn bị một bản trình bày có số liệu, rồi sửa luôn những dòng đã cũ.

Coi việc đi thu dữ liệu mới là một việc lớn phải có dự án riêng. Nhóm nhận ra mình thiếu dữ liệu về một nhóm người dùng, rồi xếp việc ấy vào danh sách chờ ngân sách năm sau. Người ta nghĩ vậy vì chữ thu thập dữ liệu gợi ra một cuộc khảo sát quy mô lớn với bảng hỏi và nhiều tiền. Hậu quả là trong lúc chờ, mọi quyết định vẫn được đưa ra dựa trên bộ dữ liệu cũ mà ai cũng biết là thiếu. Cách tránh là hạ quy mô xuống mức làm được trong tuần: năm cuộc nói chuyện có ghi chép đã là dữ liệu mới, và nó thường đủ để biết nên đi tiếp hướng nào.

Ngồi một mình trong phòng mình mà viết bản kiểm kê. Người được giao việc tự liệt kê theo trí nhớ, vì làm thế nhanh hơn đi hẹn gặp ba phòng khác. Hậu quả là bản kiểm kê chỉ phản ánh thứ người ấy đã biết, nên nó không phát hiện thêm được gì, mà đó lại chính là việc của nó. Người ta làm vậy vì đi gặp các bộ phận khác mất thời gian, và vì câu hỏi bạn đang lưu lại những gì nghe hơi giống một lời đi kiểm tra. Cách tránh là nói rõ ngay từ đầu rằng mình đang đi tìm nguồn dữ liệu để dùng, không đi soi ai, và hỏi bằng một câu mở chứ không đưa sẵn một danh sách để họ đánh dấu.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là một bối cảnh dựng ra để minh hoạ, không phải ca của một công ty cụ thể nào.

Một xưởng đồ gỗ ở Việt Nam lâu nay làm hàng xuất khẩu theo mẫu khách nước ngoài đưa sang, nay muốn làm một dòng hàng mang nhãn của mình để bán trong nước. Nhóm ngồi lại một buổi và dựng bản kiểm kê dữ liệu.

Phần trước khi làm có bảng giá và kích thước của những mẫu bàn ghế cùng loại trên thị trường. Phần trong khi làm khá đầy: hồ sơ thử độ ẩm của gỗ, biên bản kiểm mối ghép, sổ ghi các lần sửa mẫu theo yêu cầu khách. Phần sau khi bán gần như trống, vì nhiều năm nay hàng ra khỏi xưởng là xong, mọi tiếp xúc với người dùng cuối đều thuộc về phía khách đặt hàng.

Ô trống ấy không phải do nhóm làm ẩu. Nó là hệ quả của cách xưởng vẫn bán hàng. Và cũng chính vì thế, câu hỏi người mua trong nước chọn bàn ghế dựa vào cái gì không có nguồn nào trong xưởng trả lời được.

Điều rút ra: giá trị của một bản kiểm kê nằm ở ô còn trống và ở lý do nó trống.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

«Phát triển sản phẩm hướng thị trường», TS. Trần Anh Tuấn, chương 19 «Đưa cho người thật thử, không chỉ đo trong phòng thí nghiệm» — vì sao có những câu hỏi chỉ trả lời được bằng cách đưa bản mẫu cho người dùng thật, và loại dấu vết mà việc đó sinh ra.

«Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, phiên bản 2026», TS. Trần Anh Tuấn, chương 5 — các nguồn dữ liệu quanh một sản phẩm trong hoàn cảnh Việt Nam, dùng để đối chiếu khi bạn kẻ bản kiểm kê cho công ty mình.

Bên ngoài

Darrell Huff, «How to Lie with Statistics», xuất bản lần đầu năm 1954 — một cuốn sách mỏng và cũ, viết cho người không làm nghề thống kê, về những cách một con số đúng vẫn dẫn người đọc tới kết luận sai.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook