m.school › Trợ lý AI giúp được việc gì, và không giúp được việc gì › bài 3

Bài 3 · Những việc trợ lý AI làm sai mà nghe như đúng

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 144 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ gọi được tên năm kiểu sai hay gặp trong câu trả lời của một trợ lý AI, và chỉ ra chúng trên một câu trả lời thật. Nói được mỗi kiểu sai ấy sinh ra từ chỗ nào trong cách máy dựng câu trả lời, chứ không phải từ một trục trặc riêng lẻ. Chọn được chỗ nào trong một câu trả lời đáng soi trước, thay vì đọc đều tay từ đầu tới cuối.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Máy đưa về một danh sách năm nguồn, trong đó ba nguồn có thật và hai nguồn dựng ra. Theo bài, vì sao danh sách ấy nguy hơn một danh sách bịa hết?

  2. Câu 2. Khi không được gắn thêm công cụ tính, trợ lý AI làm gì với một phép tính nhiều bước?

  3. Câu 3. Phần máy học sẵn dừng ở một mốc thời gian. Theo bài, vì sao kiểu sai «thứ đã cũ nói như còn đúng» lại khó bắt?

  4. Câu 4. Bạn hỏi một câu gắn với hoàn cảnh trong nước, và câu trả lời nêu tên một cơ quan nghe quen mà không phải cơ quan đúng. Đây là kiểu sai nào?

  5. Câu 5. Trong vụ Mata kiện Avianca, luật sư có hỏi lại chính trợ lý AI xem một bản án kia có thật không. Theo bài, kết quả ra sao, và toà xử thế nào?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Chọn một câu trả lời mà bạn đã nhận từ một trợ lý AI trong tháng này và đã dùng vào việc thật, hoặc tạo một câu trả lời mới cho một câu hỏi thuộc đúng nghề của bạn. In ra hoặc chép vào một tệp. Đi dọc câu trả lời và đánh dấu mỗi chỗ thuộc một trong năm kiểu sai ở bảng tổng hợp, ghi số kiểu bên cạnh. Chưa cần biết chỗ đó đúng hay sai, chỉ cần đánh dấu rằng nó thuộc loại có thể sai theo kiểu nào. Sau đó chọn hai chỗ và đi kiểm thật tới nguồn gốc. Cuối cùng, mở lại cuộc trò chuyện và hỏi máy một câu nghi ngờ về một đoạn mà bạn đã xác nhận là đúng, rồi xem nó có đổi câu trả lời không.

Cách tự chấm. Dấu hiệu bạn làm đúng: trong một câu trả lời cỡ một trang, bạn đánh dấu được ít nhất ba chỗ thuộc ba kiểu khác nhau; hai chỗ bạn đem đi kiểm đều kết thúc bằng một kết luận rõ ràng là có thật, sai, hoặc không tìm thấy; và sau phép thử cuối, bạn nói được máy đã giữ nguyên hay đã đổi khi bị hỏi gặng. Dấu hiệu còn sai: bạn không đánh dấu được chỗ nào, nghĩa là đang đọc theo cảm giác chứ chưa đọc theo loại; bạn chỉ đánh dấu những chỗ nói về lĩnh vực bạn không biết; hoặc bạn coi việc máy giữ nguyên câu trả lời khi bị hỏi gặng là bằng chứng rằng câu ấy đúng.

Lời giải mẫu. Lấy một câu trả lời dựng ra để minh hoạ, cho câu hỏi về quy định phải tuân theo khi đưa một mặt hàng thực phẩm đóng gói ra thị trường trong nước. Đoạn mở nói nguyên tắc chung của việc chứng nhận sản phẩm: đây là phần chung, đúng ở mức nguyên lý, dùng để biết nên tra tiếp theo hướng nào. Đoạn nêu tên một cơ quan quản lý kèm tên một thủ tục: đánh dấu kiểu thứ năm, vì tên cơ quan và cách gọi thủ tục là chỗ dễ bị thay bằng cách gọi của nước khác, phải đối chiếu với văn bản của chính cơ quan trong nước. Đoạn nêu một số hiệu quy chuẩn kèm năm ban hành: đánh dấu kiểu thứ nhất và kiểu thứ tư cùng lúc, vì số hiệu có thể dựng ra, mà cũng có thể có thật nhưng đã được thay bằng bản mới. Đoạn nêu thời hạn xử lý hồ sơ tính bằng ngày: đánh dấu kiểu thứ ba, phải xem con số ấy đo theo quy định nào. Điều bài tập này cho thấy không nằm ở chỗ đoạn nào đúng đoạn nào sai. Nó nằm ở chỗ bốn đoạn ấy cần bốn cách kiểm khác nhau, và không đoạn nào kiểm được bằng cách đọc lại kỹ hơn.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bài 1 nói cách máy dựng ra một câu trả lời. Bài 2 nói giao việc gì cho nó thì có lợi. Bài này đi vào phía ngược lại: những chỗ nó sai, và vì sao đúng những chỗ ấy lại là những chỗ khó nhận ra nhất.

Có một việc bài này cố ý không làm. Nó không nêu con số nào về tỉ lệ sai, và không nói trợ lý nào sai nhiều hơn trợ lý nào. Những con số kiểu đó đổi theo từng bản, và tới ngày bạn đọc bài thì không kiểm lại được nữa. Thứ không đổi là các kiểu sai, vì chúng đến từ chính cách máy làm việc.

1

Nguồn và trích dẫn được dựng ra, nghe giống hệt nguồn thật

Kiểu sai hay được nhắc nhất là nguồn dựng ra: máy đưa ra một tài liệu, một bản án, một số hiệu tiêu chuẩn, một câu trích dẫn, mà thứ ấy không tồn tại.

Nhớ lại cơ chế ở bài 1 thì chuyện này không còn lạ. Một trích dẫn có hình dạng rất đều: tên tác giả, tên bài, tên nơi công bố, năm, số trang. Một số hiệu tiêu chuẩn cũng vậy: mấy chữ cái, một dãy số, một năm ban hành. Máy đã đọc hàng triệu thứ mang đúng hình dạng đó, nên nó dựng ra một cái mới rất dễ. Hình dạng thì đúng, chỉ có điều phía sau hình dạng ấy không có gì cả.

Chỗ khó là loại sai này không để lại dấu vết trên mặt chữ. Một trích dẫn dựng ra và một trích dẫn thật đọc lên giống hệt nhau, vì cả hai cùng ra đời từ một cơ chế ghép chữ. Đọc kỹ hơn không giúp gì. Càng đọc thì câu càng thuyết phục, bởi thứ cụ thể bao giờ cũng nghe chắc hơn thứ chung chung.

Loại sai này còn có mấy dạng pha trộn, khó hơn dạng bịa hẳn. Tác giả có thật nhưng bài báo không có. Bài báo có thật nhưng câu trích dẫn thì không nằm trong đó. Số hiệu tiêu chuẩn có thật nhưng nội dung máy gán cho nó lại là nội dung của một tiêu chuẩn khác. Một danh sách năm nguồn, trong đó ba nguồn thật và hai nguồn dựng ra, là thứ rất hay gặp, và nó nguy hơn một danh sách bịa hết: bạn mở hai nguồn đầu thấy đúng rồi tin cả danh sách.

Cần nói cho cân. Nhiều trợ lý ngày nay tra được trên mạng và trả về đường dẫn kèm câu trả lời. Việc đó làm loại sai này ít đi thật. Nhưng phần tóm tắt lại nội dung sau khi tra vẫn là phần ghép chữ, nên vẫn có chuyện đường dẫn có thật mà câu tóm tắt nói một điều không nằm trong trang ấy. Có đường dẫn nghĩa là bạn kiểm được nhanh hơn, chứ không nghĩa là đã có ai kiểm hộ bạn.

2

Con số và phép tính sai, mà trình bày thì rất gọn gàng

Kiểu sai thứ hai nằm ở con số. Nó gồm hai thứ khác nhau: con số bị lấy sai, và phép tính bị làm sai.

Phần phép tính cần một câu giải thích về cơ chế. Khi không được gắn thêm công cụ tính, máy không chạy phép tính theo nghĩa bạn hiểu. Nó viết ra lời giải, theo hình dạng của những lời giải nó đã đọc. Với những phép quen thuộc thì hình dạng ấy trùng với cách tính đúng, nên kết quả đúng. Với một phép dài hơn, nhiều bước hơn, hoặc có đơn vị lẫn vào, hình dạng vẫn giữ nguyên mà con số ở giữa có thể trượt.

Những chỗ hay trượt khá đều nhau. Đổi đơn vị. Cộng dồn phần trăm qua nhiều chặng. Lấy trung bình của những trung bình đã tính trên các nhóm khác cỡ nhau. Giữ lại một con số từ đoạn trên rồi dùng tiếp ở đoạn dưới sau khi giả thiết đã đổi. Những lỗi này con người cũng mắc, nhưng ở người thì chúng thường đi kèm dấu hiệu lúng túng, còn ở máy thì không.

Chỗ đáng nhớ nhất là hình thức trình bày. Lời giải của máy thường chia bước rõ ràng, mỗi bước một dòng, có chú thích đơn vị, có câu kết luận đóng gọn. Cách trình bày ấy chính là thứ bạn quen dùng để đánh giá một người làm tính cẩn thận. Nhưng ở đây nó chỉ là văn phong, không phải bằng chứng. Các bước nghe hợp lý vẫn dẫn được tới một con số sai, và một con số sai nằm trong bảng gọn gàng thì gần như không ai dừng lại hỏi.

Phần lấy sai con số thì đơn giản hơn nhưng hay gặp hơn. Một con số có thật nhưng thuộc năm khác, vùng khác, hoặc đo theo một điều kiện khác. Con số vẫn đúng cỡ, nên nó vượt qua phép thử bằng cảm giác của bạn mà không vướng gì.

3

Thứ đã cũ được nói như còn đúng, và chỗ riêng bị thay bằng chỗ chung

Kiểu sai thứ ba đến từ thời gian. Phần máy học sẵn dừng ở một mốc, và sau mốc ấy nó không có gì. Quy định được sửa, tiêu chuẩn ra bản mới, một cơ quan đổi tên, một cách làm bị bỏ. Máy vẫn trả lời, bằng nội dung của trước mốc, và bằng giọng của hiện tại.

Điều làm kiểu sai này khó bắt là máy không biết nó dừng ở đâu. Mốc ấy không nằm trong phần nó học như một thông tin, nó chỉ là chỗ khối văn bản kết thúc. Nên bạn không nhận được câu cảnh báo nào. Bạn nhận một câu trả lời bình thường, nói về một bản quy định đã hết hiệu lực, với đúng giọng điềm tĩnh như mọi câu khác.

Kiểu sai thứ tư nằm ngay cạnh, và hai cái hay đi cùng nhau: chỗ riêng bị thay bằng chỗ chung. Bạn hỏi một câu có bối cảnh Việt Nam, câu trả lời về lại mang hình dạng của bối cảnh nào được viết nhiều nhất, thường là Hoa Kỳ hoặc châu Âu. Tên cơ quan nghe giống tên một cơ quan có thật nhưng không phải cơ quan đúng. Cách gọi một thủ tục là cách gọi của nơi khác. Mốc thời hạn, đơn vị đo, mức ngưỡng đều mang dáng của nơi khác.

Bài 1 đã nói vì sao: ở những đề tài ít người viết thì chất liệu đã học mỏng đi, mà thiếu chất liệu thì máy không bỏ trống, nó ghép thêm theo những thứ gần giống. Phần dựng thêm ấy lấy hình dạng từ nơi có nhiều chữ nhất. Vậy nên hỏi một câu gắn với hoàn cảnh trong nước thì hãy chờ sẵn rằng phần máy tự ghép thêm chiếm chỗ nhiều hơn, và soi đúng phần đó trước.

4

Nó nghiêng theo chiều bạn đang nghiêng, nên hỏi gặng không làm câu trả lời đúng hơn

Kiểu sai thứ năm khác hẳn bốn kiểu trên, vì nó không nằm trong câu trả lời đầu tiên. Nó xuất hiện ở lần hỏi thứ hai, thứ ba. Gọi nó là chiều theo người hỏi: máy có xu hướng đưa ra câu trả lời hợp với điều người hỏi đang mong, thay vì giữ nguyên điều nó vừa nói.

Có hai đường dẫn tới chuyện này. Đường thứ nhất nằm ở chính câu hỏi. Câu hỏi của bạn là chất liệu đầu vào, mà chất liệu đầu vào thì nặng nhất trong ba loại ở bài 1. Hỏi «vì sao cách làm này tốt hơn cách kia» là bạn đã đưa vào sẵn một giả định, và máy sẽ viết tiếp phần hợp lý đi sau giả định ấy. Nó không dừng lại để bác bỏ phần bạn vừa đặt ra, vì bác bỏ không phải việc nó được rèn.

Đường thứ hai nằm ở cách các trợ lý được chỉnh. Người ta đo chúng bằng mức hài lòng của người dùng, nên câu trả lời làm người đọc dễ chịu được ưu tiên hơn câu trả lời làm người đọc cụt hứng. Hệ quả là khi bạn hỏi lại với giọng nghi ngờ, câu trả lời có xu hướng mềm đi, xin lỗi, rồi đổi sang hướng bạn đang nghiêng. Việc nó đổi không nói lên rằng câu đầu sai, và việc nó giữ nguyên cũng không nói lên rằng câu đầu đúng.

Đây là chỗ nguy nhất của cả bài, vì nó không giống một lỗi. Bạn thấy mình vừa làm một việc rất giống kiểm tra: bạn đã hỏi lại, máy đã xác nhận, vậy là xong. Thật ra bạn chỉ nhận thêm một đoạn chữ nữa, dựng bằng đúng cơ chế đã dựng ra đoạn trước, và lần này còn có thêm chiều nghiêng của bạn làm chất liệu. Phép kiểm thật phải đi ra ngoài cuộc trò chuyện, và bài 4 nói cách làm phần ấy.

Năm kiểu sai không phải năm trục trặc rời nhau: cả năm mọc ra từ chỗ máy phải dựng thêm khi chất liệu không đủ.Chỗ cả năm kiểu sai mọc ra: thiếu chất liệu thì máy không bỏ trống, nó ghép thêm theo những thứ gần giống; năm kiểu sai là năm hình dạng của cùng một việc máy đang làm. Một, nguồn và trích dẫn dựng ra: tên tài liệu, số hiệu, câu trích dẫn rất sắc nét, đúng hình dạng; máy học hình dạng của trích dẫn, thiếu chất liệu thì vẫn dựng theo hình dạng ấy; soi bằng cách mở nguồn gốc ra xem, mở từng cái, không mở mẫu vài cái. Hai, con số và phép tính sai: lời giải chia bước, có đơn vị, có câu kết luận, hoặc một con số đúng cỡ, nghe hợp lý; máy viết ra hình dạng của một lời giải chứ không chạy phép tính, và chất liệu đã học không mang theo điều kiện đo và năm; soi bằng cách tự tính lại bằng tay hoặc bằng bảng tính, rồi hỏi con số đó đo ở đâu, năm nào, theo điều kiện gì. Ba, thứ đã cũ nói như còn đúng: câu trả lời bình thường, không có dấu hiệu gì; phần máy học dừng ở một mốc và máy không biết mốc ấy ở đâu; soi bằng cách kiểm bản hiện hành trên trang của nơi ban hành. Bốn, chỗ riêng bị thay bằng chỗ chung: tên cơ quan, cách gọi thủ tục, ngưỡng số đều hơi lệch; chất liệu mỏng ở chỗ ít người viết, phần dựng thêm lấy dáng của nơi nhiều chữ nhất; soi bằng cách đối chiếu với văn bản của chính nơi bạn đang hỏi về. Năm, chiều theo người hỏi: lần hỏi thứ hai câu trả lời mềm đi, xin lỗi, rồi đổi sang hướng bạn đang nghiêng; câu hỏi của bạn là chất liệu đầu vào và nó nặng nhất, các trợ lý lại được chỉnh theo mức hài lòng của người dùng; soi bằng cách đi ra ngoài cuộc trò chuyện mà kiểm, vì hỏi lại ngay trong đó chỉ nhận thêm một đoạn chữ dựng bằng đúng cơ chế cũ. NĂM KIỂU SAI cả năm mọc ra từ cùng một chỗ trong cách máy dựng câu trả lời Chỗ cả năm kiểu sai mọc ra Thiếu chất liệu thì máy không bỏ trống, nó ghép thêm theo những thứgần giống. Năm kiểu sai dưới đây không phải năm trục trặc khác nhau, chúng là nămhình dạng của cùng một việc máy đang làm. KIỂU SAI VÀ CHỖ SINH RA SOI THẾ NÀO 1 Nguồn và trích dẫn dựng ra Tên tài liệu, số hiệu, câu trích dẫnrất sắc nét, đúng hình dạng. Máy học hình dạng của trích dẫn; thiếuchất liệu thì vẫn dựng theo hình dạngấy. Mở nguồn gốc ra xem,mở từng cái, không mởmẫu vài cái. 2 Con số và phép tính sai Lời giải chia bước, có đơn vị, có câukết luận; hoặc một con số đúng cỡ, nghehợp lý. Máy viết ra hình dạng của một lời giảichứ không chạy phép tính, và chất liệuđã học không mang theo điều kiện đo vànăm. Tự tính lại bằng tayhoặc bằng bảng tính,rồi hỏi con số đó đoở đâu, năm nào, theođiều kiện gì. 3 Thứ đã cũ nói như còn đúng Câu trả lời bình thường, không có dấuhiệu gì. Phần máy học dừng ở một mốc, và máykhông biết mốc ấy ở đâu. Kiểm bản hiện hànhtrên trang của nơiban hành. 4 Chỗ riêng bị thay bằng chỗchung Tên cơ quan, cách gọi thủ tục, ngưỡngsố đều hơi lệch. Chất liệu mỏng ở chỗ ít người viết,phần dựng thêm lấy dáng của nơi nhiềuchữ nhất. Đối chiếu với văn bảncủa chính nơi bạnđang hỏi về. 5 Chiều theo người hỏi Lần hỏi thứ hai câu trả lời mềm đi,xin lỗi, rồi đổi sang hướng bạn đangnghiêng. Câu hỏi của bạn là chất liệu đầu vàovà nó nặng nhất; các trợ lý lại đượcchỉnh theo mức hài lòng của người dùng. Đi ra ngoài cuộc tròchuyện mà kiểm: hỏilại ngay trong đó chỉnhận thêm một đoạnchữ dựng bằng đúng cơchế cũ. Năm kiểu sai không phải năm trục trặc rời nhau: cả năm mọc ra từ chỗ máy phải dựng thêm khi chất liệu không đủ.Chỗ cả năm kiểu sai mọc ra: thiếu chất liệu thì máy không bỏ trống, nó ghép thêm theo những thứ gần giống; năm kiểu sai là năm hình dạng của cùng một việc máy đang làm. Một, nguồn và trích dẫn dựng ra: tên tài liệu, số hiệu, câu trích dẫn rất sắc nét, đúng hình dạng; máy học hình dạng của trích dẫn, thiếu chất liệu thì vẫn dựng theo hình dạng ấy; soi bằng cách mở nguồn gốc ra xem, mở từng cái, không mở mẫu vài cái. Hai, con số và phép tính sai: lời giải chia bước, có đơn vị, có câu kết luận, hoặc một con số đúng cỡ, nghe hợp lý; máy viết ra hình dạng của một lời giải chứ không chạy phép tính, và chất liệu đã học không mang theo điều kiện đo và năm; soi bằng cách tự tính lại bằng tay hoặc bằng bảng tính, rồi hỏi con số đó đo ở đâu, năm nào, theo điều kiện gì. Ba, thứ đã cũ nói như còn đúng: câu trả lời bình thường, không có dấu hiệu gì; phần máy học dừng ở một mốc và máy không biết mốc ấy ở đâu; soi bằng cách kiểm bản hiện hành trên trang của nơi ban hành. Bốn, chỗ riêng bị thay bằng chỗ chung: tên cơ quan, cách gọi thủ tục, ngưỡng số đều hơi lệch; chất liệu mỏng ở chỗ ít người viết, phần dựng thêm lấy dáng của nơi nhiều chữ nhất; soi bằng cách đối chiếu với văn bản của chính nơi bạn đang hỏi về. Năm, chiều theo người hỏi: lần hỏi thứ hai câu trả lời mềm đi, xin lỗi, rồi đổi sang hướng bạn đang nghiêng; câu hỏi của bạn là chất liệu đầu vào và nó nặng nhất, các trợ lý lại được chỉnh theo mức hài lòng của người dùng; soi bằng cách đi ra ngoài cuộc trò chuyện mà kiểm, vì hỏi lại ngay trong đó chỉ nhận thêm một đoạn chữ dựng bằng đúng cơ chế cũ. NĂM KIỂU SAI cả năm mọc ra từ cùng một chỗ Chỗ cả năm kiểu sai mọcra Thiếu chất liệu thì máy khôngbỏ trống, nó ghép thêm theonhững thứ gần giống. Năm kiểu sai dưới đây khôngphải năm trục trặc khác nhau,chúng là năm hình dạng của cùngmột việc máy đang làm. 1 Nguồn và trích dẫndựng ra Tên tài liệu, số hiệu, câutrích dẫn rất sắc nét,đúng hình dạng. Máy học hình dạng củatrích dẫn; thiếu chất liệuthì vẫn dựng theo hìnhdạng ấy. soi bằng cách nào Mở nguồn gốc ra xem, mở từngcái, không mở mẫu vài cái. 2 Con số và phép tínhsai Lời giải chia bước, có đơnvị, có câu kết luận; hoặcmột con số đúng cỡ, nghehợp lý. Máy viết ra hình dạng củamột lời giải chứ khôngchạy phép tính, và chấtliệu đã học không mangtheo điều kiện đo và năm. soi bằng cách nào Tự tính lại bằng tay hoặc bằngbảng tính, rồi hỏi con số đó đoở đâu, năm nào, theo điều kiệngì. 3 Thứ đã cũ nói như cònđúng Câu trả lời bình thường,không có dấu hiệu gì. Phần máy học dừng ở mộtmốc, và máy không biết mốcấy ở đâu. soi bằng cách nào Kiểm bản hiện hành trên trangcủa nơi ban hành. 4 Chỗ riêng bị thaybằng chỗ chung Tên cơ quan, cách gọi thủtục, ngưỡng số đều hơilệch. Chất liệu mỏng ở chỗ ítngười viết, phần dựng thêmlấy dáng của nơi nhiều chữnhất. soi bằng cách nào Đối chiếu với văn bản của chínhnơi bạn đang hỏi về. 5 Chiều theo người hỏi Lần hỏi thứ hai câu trảlời mềm đi, xin lỗi, rồiđổi sang hướng bạn đangnghiêng. Câu hỏi của bạn là chấtliệu đầu vào và nó nặngnhất; các trợ lý lại đượcchỉnh theo mức hài lòngcủa người dùng. soi bằng cách nào Đi ra ngoài cuộc trò chuyện màkiểm: hỏi lại ngay trong đó chỉnhận thêm một đoạn chữ dựngbằng đúng cơ chế cũ.
Hình 1. Năm kiểu sai không phải năm trục trặc rời nhau: cả năm đều mọc ra từ cùng một chỗ, là chỗ máy phải dựng thêm khi chất liệu không đủ.

Bảng tổng hợp năm kiểu sai và chỗ chúng sinh ra

Kiểu saiNó trông thế nào trên mặt chữNó sinh ra từ chỗ nào trong cơ chếSoi bằng cách nào
Nguồn và trích dẫn dựng ratên tài liệu, số hiệu, câu trích dẫn rất sắc nét, đúng hình dạngmáy học hình dạng của trích dẫn; thiếu chất liệu thì vẫn dựng theo hình dạng ấymở nguồn gốc ra xem, mở từng cái, không mở mẫu vài cái
Con số và phép tính sailời giải chia bước, có đơn vị, có câu kết luận; hoặc một con số đúng cỡ, nghe hợp lýmáy viết ra hình dạng của một lời giải chứ không chạy phép tính, và chất liệu đã học không mang theo điều kiện đo và nămtự tính lại bằng tay hoặc bằng bảng tính, rồi hỏi con số đó đo ở đâu, năm nào, theo điều kiện gì
Thứ đã cũ nói như còn đúngcâu trả lời bình thường, không có dấu hiệu gìphần máy học dừng ở một mốc, và máy không biết mốc ấy ở đâukiểm bản hiện hành trên trang của nơi ban hành
Chỗ riêng bị thay bằng chỗ chungtên cơ quan, cách gọi thủ tục, ngưỡng số đều hơi lệchchất liệu mỏng ở chỗ ít người viết, phần dựng thêm lấy dáng của nơi nhiều chữ nhấtđối chiếu với văn bản của chính nơi bạn đang hỏi về
Chiều theo người hỏilần hỏi thứ hai câu trả lời mềm đi, xin lỗi, rồi đổi sang hướng bạn đang nghiêngcâu hỏi của bạn là chất liệu đầu vào và nó nặng nhất; các trợ lý lại được chỉnh theo mức hài lòng của người dùngđi ra ngoài cuộc trò chuyện mà kiểm — hỏi lại ngay trong đó chỉ nhận thêm một đoạn chữ dựng bằng đúng cơ chế cũ

Chụp lại bảng này. Cột thứ ba là cột đáng nhớ hơn cả: năm kiểu sai trên không phải năm trục trặc khác nhau, chúng là năm hình dạng của cùng một việc máy đang làm.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Coi mỗi kiểu sai là một lỗi vặt riêng, rồi vá từng cái một. Người dùng bắt được một trích dẫn bịa thì từ đó chỉ soi trích dẫn; bắt được một phép tính sai thì từ đó chỉ soi con số. Người ta làm vậy vì mỗi lần bắt được lỗi là một bài học cụ thể, mà bài học cụ thể thì dễ nhớ hơn một nguyên lý. Nhưng nếu nhìn từng cái một thì danh sách phải soi dài mãi ra, và lần sau gặp một kiểu sai chưa có trong danh sách thì bạn không có chỗ nào để treo nó vào. Hậu quả rơi vào người tin rằng mình đã soi đủ. Cách tránh là nhớ cột thứ ba của bảng trên: hỏi câu trả lời này đang dựa vào chất liệu nào, và chỗ nào trong đó là phần máy phải dựng thêm.

Chỉ cảnh giác với nội dung lạ, rồi tin ngay nội dung quen. Đọc một đoạn về lĩnh vực mình không biết thì người ta dè chừng, còn đọc một đoạn về đúng nghề mình thì gật đầu cho qua. Người ta làm vậy vì đoạn nói về nghề mình đọc lên thấy quen, mà quen thì cảm giác như đã được kiểm. Chỗ hỏng là cảm giác quen chỉ bắt được những chỗ sai lớn; nó không bắt được một số hiệu lệch một chữ hay một ngưỡng lệch một bậc, vì những thứ ấy vẫn nằm trong vùng trông quen thuộc. Hậu quả rơi vào chính phần tài liệu bạn tự tin nhất, nên cũng là phần bạn gửi đi mà không soát lại. Cách tránh là buộc việc soi vào loại nội dung chứ không vào cảm giác: hễ có số, có số hiệu, có tên riêng thì mở nguồn, dù đoạn ấy nói về đúng việc bạn làm mười năm nay.

Nghĩ rằng viết câu hỏi kỹ hơn thì hết sai. Người dùng viết lại câu hỏi dài hơn, rõ hơn, dặn thêm là đừng bịa, rồi coi như đã xử lý xong phần rủi ro. Người ta tin vậy vì câu hỏi viết kỹ đúng là cho câu trả lời tốt hơn thật, chuyện đó đo được. Nhưng câu dặn đừng bịa không chạm được vào cơ chế: máy không có một công tắc để bật chế độ chỉ nói thứ có thật, và nó cũng không biết chỗ nào trong câu trả lời là chỗ nó vừa dựng thêm. Hậu quả là người dùng chuyển công sức sang viết câu hỏi và rút bớt công sức soát lại, tức là bỏ đúng phần có tác dụng. Cách tránh là coi việc viết câu hỏi và việc soát lại là hai việc tách rời, cả hai đều phải làm, và việc thứ hai thì không bỏ được.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là một vụ đã có phán quyết công khai, bạn tra lại được bằng số hiệu vụ án.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, thẩm phán P. Kevin Castel của một toà án liên bang Hoa Kỳ ra văn bản xử phạt trong vụ Mata kiện Avianca, số hiệu 22-cv-1461. Bản lập luận mà phía nguyên đơn nộp lên toà dẫn những bản án không có thật, kèm trích dẫn không có thật, do một trợ lý AI sinh ra. Luật sư viết bản ấy có hỏi lại chính trợ lý đó xem một trong các bản án kia có thật không; trợ lý trả lời là có, và nói thêm rằng tra được trong hai kho án lệ lớn.

Toà phạt hai luật sư cùng văn phòng luật của họ năm nghìn đô la Mỹ, và buộc họ gửi thư cho thân chủ, cùng cho từng thẩm phán bị gán sai là tác giả của sáu bản án dựng ra.

Điều rút ra: một nguồn dựng ra không để lại dấu hiệu nào trên mặt chữ, và hỏi lại chính cái máy thì chỉ nhận thêm một lần khẳng định nữa, không nhận thêm bằng chứng nào.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Sách «Phát triển sản phẩm hướng thị trường», TS. Trần Anh Tuấn, chương 27 «AI chạy cùng bạn suốt 6 lần lấy nét», phần nói về chỗ một trợ lý phổ thông trả lời chung chung khi gặp câu hỏi riêng của một ngành — liên quan tới kiểu sai thứ năm trong bài này.

Sách «Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, phiên bản 2026», TS. Trần Anh Tuấn, chương 18, mục 18.9 về giới hạn của AI — xếp các giới hạn theo từng chặng của việc phát triển sản phẩm, đọc cùng bảng tổng hợp của bài này thì thấy rõ chặng nào gặp kiểu sai nào.

Bên ngoài

Văn bản «Opinion and Order on Sanctions» ngày 22 tháng 6 năm 2023 trong vụ Mata kiện Avianca, số hiệu 22-cv-1461, Toà án liên bang khu vực Nam New York, Hoa Kỳ — nguồn của phần ví dụ; văn bản ghi lại đầy đủ các bản án dựng ra, cách chúng lọt vào hồ sơ, và mức phạt.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook