m.school › Sở hữu trí tuệ, phần người làm sản phẩm cần biết › bài 3
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một nhóm chỉ tra kho sáng chế để né những văn bằng đang có hiệu lực, coi kho như chỗ cần tránh. Theo bài, nhóm này bỏ lỡ điều gì?
Tra kho có hai lý do: không mất công nghĩ lại thứ đã công bố, và không đâm vào thứ đang có người giữ. Chỉ tra để né thì bỏ qua phần giá trị nhất của kho là những lời giải đã có sẵn. Xem mục 2.
Câu 2. Một nhóm tra kho để học nguyên lý, tìm được một cơ cấu hay và định đưa luôn vào sản phẩm. Theo bài, việc tiếp theo nên là gì?
Tìm thấy rồi thì việc tiếp theo chưa phải là dùng: xếp các giải pháp vào bảng so sánh, và trước khi đem vào sản phẩm phải xin phép chủ sở hữu nếu cần. Có cần xin phép hay không là câu hỏi cho người làm nghề. Xem mục 2 và mục 4.
Câu 3. Một xưởng cơ khí gõ «máy bóc vỏ lạc» vào một kho sáng chế, ra rất ít kết quả. Theo bài, nên làm gì tiếp?
Người viết bản mô tả sáng chế gọi thứ của họ bằng chữ mô tả cái nó làm, không bằng tên chợ. Viết chức năng thành câu có động từ và đối tượng, tra bằng vài cách gọi cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, rồi tra tiếp theo mã phân loại của kết quả trúng. Xem mục 3.
Câu 4. Một nhóm tra đúng cách trên một kho, không thấy văn bằng nào liên quan, và định báo lên rằng hướng này sạch. Theo bài, vì sao chưa nên kết luận như vậy?
Tra một kho không phải tra mọi kho, và theo Điều 110, đơn sáng chế ở Việt Nam được công bố vào tháng thứ mười chín kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, trừ khi xin công bố sớm. Hãy ghi rõ tra ở kho nào, ngày nào, bằng từ nào. Xem mục 3 và phần «Chỗ người ta hay làm sai».
Câu 5. Bạn vừa tìm được một văn bằng sáng chế có vẻ liên quan tới việc của mình. Theo bài, nên đọc phần nào trước?
Thứ tự đọc hợp lý là tên, tóm tắt và hình vẽ trước; liên quan thì đọc phần mô tả để học. Phạm vi bảo hộ đọc để biết nó nói về cái gì, còn kết luận có đụng hay không là việc của người làm nghề. Xem mục 4.
Việc cần làm. Lấy ra một chức năng chính của sản phẩm bạn đang làm. Viết chức năng đó thành ba cách gọi: một câu tiếng Việt có động từ và đối tượng, và hai cách gọi tiếng Anh. Tra trên ít nhất hai kho trong mục 3. Chọn ba kết quả liên quan nhất. Với mỗi kết quả, ghi: số văn bằng hoặc số đơn, tên, ngày nộp đơn, nước, kho đã tra. Viết thêm một câu nói nó khác thứ bạn đang nghĩ ở chỗ nào. Cuối cùng ghi ngày tra và những từ đã dùng.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: ít nhất một kết quả bạn tìm ra nhờ cách gọi theo chức năng, không phải nhờ tên sản phẩm; mỗi câu so sánh nói về nguyên lý hay cơ cấu, không chỉ nói về hình dáng; và bạn có ghi ngày, kho, từ khoá. Dấu hiệu còn sai: bạn kết luận «không ai giữ gì»; hoặc bạn viết «mình không vi phạm» cho một kết quả nào đó. Câu đó không phải câu bạn tự viết được.
Lời giải mẫu. Dựng để minh hoạ, không phải kết quả tra thật. Sản phẩm: máy sấy lúa cho hộ nông dân. Ba cách gọi: «làm khô hạt bằng luồng khí nóng đảo chiều», «grain dryer reversible airflow», «batch dryer for paddy». Kết quả một, một bằng sáng chế Hoa Kỳ đã cũ: dùng quạt đảo chiều gió theo chu kỳ; khác máy của mình ở chỗ máy mình đảo bằng van chứ không đảo quạt. Kết quả hai, một đơn quốc tế: điều khiển nhiệt độ theo độ ẩm hạt; mình chưa có cảm biến độ ẩm, đáng học. Kết quả ba, một văn bằng ở Việt Nam về buồng sấy: cần hỏi người làm nghề xem còn hiệu lực không, vì cơ cấu gần với máy mình.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 nêu hai lý do để người làm sản phẩm quan tâm tới sở hữu trí tuệ: giữ phần của mình, và tận dụng phần người khác đã công khai. Bài này đi vào lý do sau. Bài giảng vì sao phải tra, tra vào lúc nào, mỗi kho chứa gì, và đọc một bản mô tả sáng chế theo thứ tự nào. Bài không hướng dẫn bấm từng bước trên từng trang, vì giao diện các trang đổi luôn.
Kho sáng chế (patent database) là nơi lưu và cho mọi người tra cứu các đơn và văn bằng sáng chế đã được công bố. Đổi lấy văn bằng, người nộp đơn phải công khai cách làm của mình. Kho sáng chế gom những văn bản công khai ấy lại một chỗ.
Hai cuốn sách của chúng tôi đặt việc dùng kho sáng chế vào một công cụ bốn bước. Bước một là xác định rõ yêu cầu công nghệ: dự án định tự nghiên cứu ra công nghệ mới, hay định dùng một công nghệ đã có. Bước hai là tìm những sáng chế và giải pháp đã có liên quan tới vấn đề đang giải. Bước ba là so sánh, làm rõ ưu điểm và nhược điểm của từng giải pháp tìm được. Bước bốn là ứng dụng: dùng giải pháp đã chọn, hoặc nếu tự làm ra giải pháp mới thì tính chuyện bảo hộ nó.
Chỗ đáng nhớ là bốn bước này nằm ở đâu trong dự án. Sách «RDI Toolkit 2019» đặt bước một vào chặng làm rõ yêu cầu, phần chiến lược. Bước hai nằm ở chặng tìm ý tưởng, đúng chỗ nhóm đi tìm các giải pháp có sẵn bên ngoài trước khi tự nghĩ phương án của mình. Nghĩa là việc tra diễn ra trước khi có bản vẽ, không phải sau.
Vì sao phải sớm như vậy? Vì giá của một thay đổi tăng dần theo dự án. Ở chặng tìm ý tưởng, biết thêm một giải pháp đã có chỉ tốn một buổi đọc, và nhóm có thể đổi hướng ngay. Khi bản vẽ đã chốt, khuôn đã đặt làm, thì biết thêm cũng khó đổi được gì. Lúc đó việc tra chỉ còn trả lời một câu hỏi khó chịu: thứ mình sắp bán có đụng vào ai không.
Sách «Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020» còn nêu thêm một lợi ích ít người để ý. Mỗi lần tra là một lần nhóm học thêm về lĩnh vực của mình. Những gì đọc được hôm nay có thể dùng lại cho dự án sau. Vì thế, kết quả tra nên được ghi lại thành tài liệu của nhóm, không để nằm trong máy của một người.
Lý do thứ nhất là để không mất công nghĩ lại thứ đã được công bố. Một vấn đề kỹ thuật mà nhóm bạn đang vướng rất có thể đã có người giải, và lời giải đã nằm sẵn trong một bản mô tả sáng chế. Bài 1 đã dẫn nhận xét của sách: phần đông doanh nghiệp Việt dùng kho sáng chế để tìm công nghệ có sẵn, nhiều hơn là để giữ công nghệ của mình. Đọc kho theo lý do này là đọc để học: nguyên lý nào đã được dùng, cơ cấu nào đã được thử, người khác gặp khó ở đâu.
Lý do thứ hai là để không đâm vào thứ đang có người giữ. Một giải pháp nằm trong kho không có nghĩa là ai cũng được dùng. Nếu nó đang được bảo hộ ở nước bạn định sản xuất hay định bán, thì làm theo nó có thể là xâm phạm quyền của người khác. Sách cũng nhắc nên tra cả những kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký, để hình dáng sản phẩm của bạn không trùng với một kiểu dáng đang có người giữ. Việc tra kỹ để biết một sản phẩm có được tự do làm ra và bán ở một nước hay không có tên riêng là tra cứu khả năng tự do khai thác (freedom to operate). Đây là việc của người làm nghề, vì kết luận của nó dựa vào cách đọc phạm vi bảo hộ và tình trạng hiệu lực ở từng nước.
Vì sao bỏ một lý do thì mất nửa tác dụng? Nhóm chỉ tra theo lý do thứ nhất sẽ học được nhiều, nhưng dễ mang một giải pháp đang được bảo hộ vào sản phẩm mà không biết. Nhóm chỉ tra theo lý do thứ hai sẽ coi kho như một bãi mìn cần né, và bỏ qua đúng phần giá trị nhất của nó là những lời giải đã có sẵn.
Hai lý do còn dẫn tới hai cách đọc khác nhau. Đọc để học thì đọc phần mô tả và hình vẽ, chỗ giải thích nguyên lý. Đọc để tránh đụng thì phải để ý tình trạng hiệu lực, nước được bảo hộ, và phạm vi bảo hộ. Mục 4 nói kỹ hai phần này.
Một ghi chú về giải pháp đã hết hạn. Văn bằng sáng chế có thời hạn, nên trong kho có rất nhiều giải pháp đã hết hạn. Nhưng muốn chắc một giải pháp nào đó đã thật sự hết hạn, chưa từng được bảo hộ ở Việt Nam, và không bị một bằng mới hơn phủ lên, vẫn là việc cần người làm nghề.
Dưới đây là ba kho tra được không mất phí, chúng tôi đã mở lại vào tháng 10 năm 2026.
Hệ thống tra cứu sở hữu trí tuệ của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cho tra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu đã nộp đơn ở Việt Nam. Đây là kho trả lời câu hỏi: thứ này có đang được nộp đơn hay bảo hộ ở Việt Nam không.
Espacenet của Cơ quan Sáng chế châu Âu (European Patent Office) cho tra không mất phí văn bản sáng chế của nhiều nước. Đây là kho rộng để đi tìm lời giải đã có trên thế giới.
PATENTSCOPE của WIPO chứa các đơn quốc tế nộp theo Hiệp ước hợp tác về sáng chế (Patent Cooperation Treaty), cùng văn bản sáng chế của nhiều cơ quan quốc gia và khu vực tham gia.
Địa chỉ trang ghi trong các sách cũ có thể đã đổi. Khi kiểm lại, chúng tôi không mở được hai địa chỉ ghi trong sách năm 2020. Trước khi dùng một kho, hãy kiểm lại địa chỉ ở trang của chính cơ quan quản lý nó.
Về cách tra, có một nguyên tắc quan trọng hơn chọn kho: tra theo chức năng và nguyên lý, không tra theo tên sản phẩm. Người viết bản mô tả sáng chế gọi thứ của họ bằng chữ mô tả cái nó làm, không bằng tên thương mại hay tên chợ. Lấy một bối cảnh thường gặp ở đồng bằng sông Cửu Long, không phải ca của xưởng nào. Một xưởng cơ khí làm máy sấy lúa gõ «máy sấy lúa» vào kho, ra rất ít kết quả, và kết luận chưa ai làm. Thật ra các giải pháp liên quan có thể nằm dưới những chữ như «thiết bị làm khô hạt bằng luồng khí nóng» hay «buồng sấy có sàn đảo chiều gió».
Cách làm là viết chức năng thành một câu ngắn có động từ và đối tượng: làm khô hạt, đảo chiều luồng khí, giữ nhiệt độ đều trong khối hạt. Mỗi chức năng tra bằng vài cách gọi, cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Khi tìm được một kết quả trúng, xem nó được xếp vào mã nào của bảng phân loại sáng chế quốc tế (International Patent Classification). Mã này gom các sáng chế cùng loại kỹ thuật lại với nhau, nên tra tiếp theo mã thường ra nhiều kết quả sát hơn tra theo chữ.
Sách «RDI Toolkit 2019» liệt kê những thông tin có trên một văn bản sáng chế. Gom lại theo thứ tự nên đọc, chúng gồm năm phần.
Phần thông tin chung: số văn bằng, tên sáng chế, chủ sở hữu, tác giả, ngày nộp đơn, nước cấp. Ngày nộp đơn cho bạn biết khoảng nào nó hết hạn. Nước cấp cho bạn biết nó có hiệu lực ở đâu.
Bản tóm tắt (abstract): một đoạn ngắn nói giải pháp là gì, dùng vào việc gì. Hình vẽ: thường là chỗ nhanh nhất để hiểu cơ cấu.
Phần mô tả (description): giải thích chi tiết kỹ thuật, nguyên lý, các cơ cấu và cách dùng. Đây là phần để học.
Phạm vi bảo hộ (claims): những câu xác định chính xác thứ được giữ. Văn bằng giữ đúng những gì viết trong phạm vi bảo hộ, không phải mọi thứ có trong hình vẽ hay phần mô tả.
Thứ tự đọc hợp lý là: tên, tóm tắt và hình vẽ trước, để biết văn bằng có liên quan tới việc của mình không. Liên quan thì đọc phần mô tả để học. Phạm vi bảo hộ thì đọc để biết nó tồn tại và nói về cái gì, chứ không để tự kết luận mình có đụng vào nó hay không. Kết luận đó là việc của người làm nghề.
Tìm thấy một giải pháp dùng được rồi thì việc tiếp theo chưa phải là dùng. Theo bước ba của công cụ, bạn xếp các giải pháp tìm được vào một bảng so sánh: mô tả chung, khả năng ứng dụng vào sản phẩm của mình, ưu điểm, nhược điểm, đánh giá. Cách cho điểm và chọn sẽ được dạy ở lớp So sánh và chọn giữa nhiều phương án, mã KT-03, khi lớp đó mở. Sách cũng dặn: trước khi đem một sáng chế vào sản phẩm, phải liên lạc với chủ sở hữu và xin phép; không được phép thì đi tìm giải pháp khác. Còn giải pháp đó có cần xin phép hay không thì lại là câu hỏi cho người làm nghề.
| Câu hỏi | Trả lời ngắn | Chỗ hay hỏng |
|---|---|---|
| Tra lúc nào | lúc làm rõ yêu cầu và lúc tìm ý tưởng, trước khi có bản vẽ | tra khi khuôn đã đặt, biết thêm cũng không đổi được |
| Tra để làm gì | hai lý do: học lời giải đã có, và tránh đụng thứ đang có người giữ | chỉ làm một trong hai |
| Tra ở đâu | kho của Cục Sở hữu trí tuệ cho Việt Nam; Espacenet và PATENTSCOPE cho thế giới | dùng địa chỉ cũ trong sách, tưởng kho đã đóng |
| Tra bằng gì | câu chức năng có động từ, nhiều cách gọi, rồi theo mã phân loại | gõ tên sản phẩm rồi kết luận chưa ai làm |
| Đọc gì trước | tên, tóm tắt, hình vẽ; rồi phần mô tả | tự đọc phạm vi bảo hộ rồi tự kết luận |
| Tìm thấy rồi làm gì | so sánh trong một bảng, rồi hỏi chủ sở hữu và người làm nghề | đem dùng luôn |
Chụp lại bảng này. Cột cuối là những chỗ một lần tra hay hỏng nhất.
Tra sau khi đã chốt bản vẽ. Nhóm làm xong thiết kế, đặt khuôn, rồi mới nhờ ai đó tra xem có vướng gì không. Người ta làm vậy vì nghĩ việc tra là một bước kiểm tra cuối, giống kiểm tra chất lượng. Hậu quả rơi vào cả dự án: nếu tra ra một giải pháp tốt hơn thì đã muộn để dùng, còn nếu tra ra một văn bằng đang có hiệu lực thì phải sửa thiết kế khi khuôn đã làm. Cách tránh là đưa việc tra vào chặng tìm ý tưởng, coi nó là một nguồn ý tưởng chứ không phải một cửa kiểm tra.
Tra bằng tên sản phẩm, không thấy gì, rồi kết luận đường còn trống. Người ta làm vậy vì tên sản phẩm là chữ mình dùng hằng ngày, và một kết quả trống trông như tin vui. Hậu quả rơi vào người ra quyết định: họ tin rằng không ai giữ gì, trong khi các văn bằng liên quan nằm dưới những chữ khác. Cách tránh là tra theo câu chức năng, nhiều cách gọi, cả tiếng Anh, rồi tra theo mã phân loại của kết quả trúng.
Coi không tìm thấy gì là sạch. Kể cả khi tra đúng cách, không thấy gì vẫn chưa phải là sạch. Tra một kho không phải tra mọi kho. Và theo Điều 110 Luật Sở hữu trí tuệ, bản sửa năm 2025, đơn sáng chế ở Việt Nam được công bố vào tháng thứ mười chín kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, trừ khi người nộp xin công bố sớm. Trước đó thông tin trong đơn được giữ kín, nên không có trong kho nào. Hậu quả rơi vào công ty khi một văn bằng xuất hiện sau ngày sản phẩm đã ra thị trường. Cách tránh là ghi rõ trong kết quả: tra ở kho nào, ngày nào, bằng những từ nào, và chỉ coi đó là kết quả của lần tra ấy.
Đọc một bản mô tả rồi tưởng mình hiểu phạm vi quyền của nó. Người kỹ thuật đọc hình vẽ, thấy sản phẩm của mình khác, và kết luận không đụng. Hậu quả có thể rơi vào cả hai phía: hoặc dừng một hướng đáng làm, hoặc đi tiếp vào chỗ đang có người giữ. Cách tránh là dùng bản mô tả để học, còn câu hỏi có đụng hay không thì mang tới người làm nghề.
Đây là một văn bằng thật đã hết hạn, bạn tra lại được theo số.
Ngày 22 tháng 7 năm 1952, Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế số 2.604.359 cho Frank L. Zybach, nộp đơn ngày 27 tháng 6 năm 1949. Tên bằng là «Self-propelled sprinkling irrigating apparatus», tức thiết bị tưới phun tự di chuyển. Theo trang vinh danh thành tựu nông nghiệp của trường đại học bang Nebraska ở Lincoln, đây là phát minh của hệ thống mà ngày nay người ta gọi là tưới xoay quanh tâm (center-pivot irrigation).
Chữ «xoay quanh tâm» không có trong tên bằng. Người chỉ gõ tên quen dùng hôm nay có thể bỏ sót chính văn bằng gốc. Còn văn bằng thì mô tả đúng chức năng: một ống phân phối nối khớp xoay với ống cấp nước ở giữa, đi vòng quanh ống đó như quanh một trục. Văn bằng này có đủ các phần của mục 4: phần mô tả kèm hình vẽ, và phần phạm vi bảo hộ.
Điều rút ra: tra bằng chữ mô tả chức năng thì tìm thấy thứ mà tên sản phẩm không dẫn tới.
Của MES LAB
«Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020», TS. Trần Anh Tuấn, chương 16, trang 385 tới 387 — bốn bước dùng công cụ sở hữu trí tuệ khi phát triển sản phẩm, và lời dặn xin phép chủ sở hữu trước khi dùng một sáng chế.
«RDI Toolkit 2019», TS. Trần Anh Tuấn và MES LAB, chương 18, trang 596 tới 600 — vị trí của công cụ này trong quy trình phát triển sản phẩm, và danh sách thông tin có trên một văn bản sáng chế.
Bên ngoài
Trang PATENTSCOPE của WIPO — kho đơn quốc tế và văn bản sáng chế của nhiều nước, có tài liệu hướng dẫn tra không mất phí.
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 2.604.359 «Self-propelled sprinkling irrigating apparatus», Frank L. Zybach, cấp ngày 22 tháng 7 năm 1952 — nguồn của phần ví dụ.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.