m.school › Sở hữu trí tuệ, phần người làm sản phẩm cần biết › bài 4

Bài 4 · Những chỗ người làm sản phẩm hay mất quyền của chính mình

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 137 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ gọi tên được bốn đường làm mất quyền, và nói được mỗi đường làm mất cái gì. Soi lại một việc mình đang làm và chỉ ra được nó đang hở ở đường nào. Nói được vì sao làm ra trước chưa chắc đã là người giữ được quyền.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Một xưởng gửi bản vẽ chân bàn cho một xưởng phụ để lấy báo giá. Bản vẽ không ghi chữ mật, email không kèm điều khoản giữ kín nào. Theo bài, việc này đang hở ở đường nào?

  2. Câu 2. Hai bên cùng nộp đơn cho cùng một kiểu dáng. Một bên nói: chúng tôi làm ra trước, nên văn bằng phải là của chúng tôi. Theo Điều 90 như bài ghi, văn bằng được cấp cho đơn nào?

  3. Câu 3. Một công ty thuê một nhà thiết kế tự do vẽ dáng sản phẩm, hai bên chỉ thoả thuận miệng về tiền công. Theo bài, nên làm gì để tránh đường mất quyền thứ ba?

  4. Câu 4. Một nhóm cho đối tác ký cam kết giữ kín rồi gửi toàn bộ hồ sơ sản phẩm, coi như đã an toàn. Theo bài, chỗ hở là gì?

  5. Câu 5. Một nhóm đăng ảnh dáng sản phẩm mới lên trang bán hàng, rồi nghĩ: luật cho sáu tháng để nộp đơn kiểu dáng, cứ từ từ. Theo bài, vì sao không nên lập kế hoạch dựa vào ngoại lệ này?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Chọn sản phẩm mà nhóm bạn đang phát triển. Ghi ra mọi người ngoài nhóm đã thấy hoặc sẽ thấy nó trong ba tháng tới: ai, thấy phần nào, có thoả thuận giữ kín bằng văn bản hay không. Ghi tiếp: những ai đã bỏ tiền hoặc bỏ công vào nó, và đã có văn bản nói quyền thuộc về ai chưa. Cuối cùng ghi những nước sản phẩm sắp sang. Gắn mỗi dòng vào một trong bốn đường của bảng tổng hợp, và đánh dấu những dòng cần mang tới người làm nghề.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: danh sách có cả những người dễ bị quên như xưởng làm khuôn, đơn vị thử nghiệm, khách được xem mẫu; có ít nhất một dòng ghi «chưa có văn bản»; và mỗi nước sắp sang có một câu hỏi riêng về tên, dáng, cơ cấu. Dấu hiệu còn sai: bạn chỉ ghi khách hàng mà quên nhà cung cấp; hoặc bạn tự kết luận một dòng là «an toàn» mà không có căn cứ.

Lời giải mẫu. Một ví dụ dựng ra: đèn năng lượng mặt trời cắm sân vườn. Xưởng làm khuôn đã nhận bản vẽ thân đèn, không có thoả thuận giữ kín: đường thứ hai, cần làm ngay. Ảnh mẫu đã đăng lên trang bán hàng tuần trước: đường thứ nhất, hỏi người làm nghề ngay về kiểu dáng. Mạch sạc do một kỹ sư tự do thiết kế theo hợp đồng chỉ ghi tiền công: đường thứ ba, chưa rõ quyền. Nhà phân phối ở một nước láng giềng xin mẫu để chào hàng: đường thứ tư, hỏi về tên và dáng ở nước đó trước khi gửi.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bài 2 nói về điều kiện «mới», bài 3 nói về việc đọc thứ người khác đã công bố. Bài này quay về phía giữ. Bốn đường dưới đây không được luật xếp thành một danh sách. Chúng tôi rút chúng ra từ cách các điều luật vận hành và từ ca thật, để bạn có cái soi vào việc của mình. Điều luật nhắc tới là luật Việt Nam ở tháng 10 năm 2026, và có thể đổi sau ngày đó.

1

Đường thứ nhất là nói ra trước khi giữ, và ngoại lệ của luật hẹp hơn người ta nghĩ

Bài 2 đã nói: sáng chế và kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ khi còn mới, tức chưa bị bộc lộ công khai ở bất cứ đâu trước ngày nộp đơn, kể cả do chính bạn. Một tấm ảnh trên trang bán hàng, một mẫu đặt trên quầy hội chợ, một lô bán thử đều có thể bị tính.

Luật Việt Nam có hai ngoại lệ cho trường hợp chính người có quyền đăng ký đã bộc lộ. Với sáng chế, Điều 60 khoản 3 nói sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu đơn được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ. Với kiểu dáng công nghiệp, Điều 65 khoản 4, do Luật số 131/2025/QH15 viết lại và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2026, cho thời hạn sáu tháng. Trước ngày đó, ngoại lệ cho kiểu dáng chỉ áp dụng cho ba trường hợp hẹp, trong đó có trưng bày ở triển lãm.

Nghe thì có vẻ rộng rãi. Nhưng có bốn lý do để không lập kế hoạch dựa vào nó.

Thứ nhất, đây là luật Việt Nam. Nước bạn định bán hàng có luật riêng, và ngoại lệ ở Việt Nam không làm cho bạn được hưởng ngoại lệ ở nước đó. Với sáng chế, điều kiện còn ghi rõ là nộp đơn tại Việt Nam.

Thứ hai, thời hạn ngắn và tính từ ngày bộc lộ. Nhóm bận làm sản phẩm thì sáu tháng trôi đi rất nhanh.

Thứ ba, người hưởng ngoại lệ thường phải chứng minh được mình bộc lộ ngày nào, bộc lộ cái gì. Nhóm ít khi giữ lại đủ giấy tờ cho việc đó.

Thứ tư, ngoại lệ chỉ giữ tính mới. Nó không ngăn người khác nhìn thấy thứ bạn làm trong khoảng thời gian ấy và học theo.

Luật cũng có một chỗ cho phép chia sẻ mà chưa tính là bộc lộ. Điều 60 khoản 2 và Điều 65 khoản 3 nói: nếu thông tin chỉ tới một nhóm người giới hạn, và ai trong nhóm cũng phải giữ bí mật, thì luật chưa coi là bộc lộ công khai. Vì thế, khi buộc phải cho ai xem trước lúc nộp đơn, người làm sản phẩm chỉ cho đúng người cần biết, kèm một thoả thuận giữ kín, và hỏi người làm nghề trước khi cho xem.

Ngoại lệ cho tính mới theo luật Việt Nam: mười hai tháng cho sáng chế, sáu tháng cho kiểu dáng, tính từ ngày bộc lộ.Từ ngày bộc lộ, hai thanh thời gian. Sáng chế: nộp đơn tại Việt Nam trong 12 tháng, Điều 60 khoản 3. Kiểu dáng công nghiệp: nộp đơn trong 6 tháng, Điều 65 khoản 4, viết lại năm 2025, hiệu lực từ 1 tháng 4 năm 2026. Bốn lý do không lập kế hoạch dựa vào ngoại lệ: đây là luật Việt Nam; thời hạn ngắn và tính từ ngày bộc lộ; thường phải chứng minh bộc lộ ngày nào, cái gì; ngoại lệ chỉ giữ tính mới, không ngăn người khác học theo. Chưa tính là bộc lộ khi thông tin chỉ tới một nhóm người giới hạn và ai cũng phải giữ bí mật, Điều 60 khoản 2 và Điều 65 khoản 3. NGOẠI LỆ CHO TÍNH MỚI khi chính người có quyền đăng ký đã bộc lộ, theo luật Việt Nam Ngày bộc lộ Sáng chế 12 tháng Nộp đơn tại Việt Nam trong 12 tháng kể từ ngày bộc lộ (Điều 60 khoản3). Kiểu dáng công nghiệp 6 tháng Nộp đơn trong 6 tháng (Điều 65 khoản 4, viết lại năm 2025, hiệu lực từ1/4/2026). Bốn lý do không lập kếhoạch dựa vào ngoại lệ 1. Đây là luật Việt Nam; nướcbạn định bán hàng có luật riêng. 2. Thời hạn ngắn và tính từ ngàybộc lộ. 3. Thường phải chứng minh đượcbộc lộ ngày nào, bộc lộ cái gì. 4. Ngoại lệ chỉ giữ tính mới,không ngăn người khác nhìn thấyvà học theo. Chưa tính là bộc lộ Thông tin chỉ tới một nhóm ngườigiới hạn, và ai trong nhóm cũngphải giữ bí mật (Điều 60 khoản2, Điều 65 khoản 3). Ngoại lệ cho tính mới theo luật Việt Nam: mười hai tháng cho sáng chế, sáu tháng cho kiểu dáng, tính từ ngày bộc lộ.Từ ngày bộc lộ, hai thanh thời gian. Sáng chế: nộp đơn tại Việt Nam trong 12 tháng, Điều 60 khoản 3. Kiểu dáng công nghiệp: nộp đơn trong 6 tháng, Điều 65 khoản 4, viết lại năm 2025, hiệu lực từ 1 tháng 4 năm 2026. Bốn lý do không lập kế hoạch dựa vào ngoại lệ: đây là luật Việt Nam; thời hạn ngắn và tính từ ngày bộc lộ; thường phải chứng minh bộc lộ ngày nào, cái gì; ngoại lệ chỉ giữ tính mới, không ngăn người khác học theo. Chưa tính là bộc lộ khi thông tin chỉ tới một nhóm người giới hạn và ai cũng phải giữ bí mật, Điều 60 khoản 2 và Điều 65 khoản 3. NGOẠI LỆ CHO TÍNH MỚI khi chính người có quyền đăng ký đãbộc lộ, theo luật Việt Nam Ngày bộc lộ Sáng chế 12 tháng Nộp đơn tại Việt Nam trong 12tháng kể từ ngày bộc lộ (Điều 60khoản 3). Kiểu dáng công nghiệp 6 tháng Nộp đơn trong 6 tháng (Điều 65khoản 4, viết lại năm 2025, hiệulực từ 1/4/2026). Bốn lý do không lập kếhoạch dựa vào ngoại lệ 1. Đây là luật Việt Nam; nướcbạn định bán hàng có luậtriêng. 2. Thời hạn ngắn và tính từngày bộc lộ. 3. Thường phải chứng minh đượcbộc lộ ngày nào, bộc lộ cái gì. 4. Ngoại lệ chỉ giữ tính mới,không ngăn người khác nhìn thấyvà học theo. Chưa tính là bộc lộ Thông tin chỉ tới một nhómngười giới hạn, và ai trongnhóm cũng phải giữ bí mật (Điều60 khoản 2, Điều 65 khoản 3).
Hình 1. Hai thời hạn tính từ ngày bộc lộ, cùng bốn lý do khiến chúng không phải chỗ dựa cho kế hoạch.
2

Đường thứ hai là đưa bản vẽ cho người làm mà không có thoả thuận giữ kín

Một sản phẩm không bao giờ chỉ do một nhóm làm. Bản vẽ đi tới xưởng làm khuôn, nhà cung cấp linh kiện, xưởng gia công, đơn vị thử nghiệm, và cả khách được xem mẫu. Mỗi lần bản vẽ đi ra ngoài là một lần có thể mất quyền, theo ba cách.

Cách thứ nhất: nếu bên nhận không có nghĩa vụ giữ bí mật, thì việc cho họ xem có thể bị coi là bộc lộ công khai, vì điều kiện ở mục 1 không còn.

Cách thứ hai: nếu thứ bạn muốn giữ là một bí mật kinh doanh, thì Điều 84 khoản 3 đòi chủ sở hữu phải chủ động bảo mật nó. Gửi bản vẽ đi mà không đánh dấu, không ràng buộc ai, thì khó nói là đã giữ kín.

Cách thứ ba: bên nhận có thể đem chính thứ đó đi nộp đơn trước. Theo Điều 90, khi có nhiều đơn cho cùng một sáng chế hay cùng một kiểu dáng, văn bằng được cấp cho đơn hợp lệ có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm nhất. Khi đó bạn là bên phải đi chứng minh, và việc chứng minh tốn thời gian.

Thử hình dung một bối cảnh quen thuộc ở Việt Nam; đây không phải ca của một xưởng cụ thể. Một xưởng gỗ ở miền Nam chuyển từ gia công cho hãng nước ngoài sang làm bộ bàn ghế mang nhãn riêng. Xưởng gửi bản vẽ chân ghế cho một xưởng phụ để lấy báo giá. Bản vẽ không ghi chữ mật, email không kèm điều khoản giữ kín, và không có dòng nào nói bản vẽ là của ai. Cả ba cách mất quyền ở trên đều đang mở.

Thoả thuận giữ kín (non-disclosure agreement) là văn bản trong đó bên nhận thông tin cam kết không tiết lộ và chỉ dùng thông tin vào việc đã thoả thuận. Viết nó thế nào cho đủ là việc của người làm nghề. Lớp không đưa mẫu.

3

Đường thứ ba là không rõ ai là chủ ngay từ đầu

Nhiều sản phẩm được làm ra bởi nhiều bên: một nhà thiết kế tự do được thuê vẽ dáng, một viện nghiên cứu làm phần cơ cấu, hai công ty cùng góp tiền. Câu hỏi «cái này của ai» thường chỉ được hỏi khi đã có giá trị, và lúc đó mỗi bên có một câu trả lời.

Điều 86 khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ nêu ai có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Đó là tác giả, nếu tác giả tạo ra nó bằng công sức và chi phí của mình. Hoặc đó là tổ chức, cá nhân đã đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Khoản 2 nói thêm: nhiều bên cùng tạo ra hoặc cùng đầu tư thì các bên đều có quyền đăng ký, và quyền đó chỉ thực hiện được nếu tất cả cùng đồng ý.

Nguyên lý rút ra có hai vế. Vế thứ nhất: ai bỏ tiền, bỏ công thì có phần trong quyền đó. Vế thứ hai: cụm chữ «trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác» cho thấy luật để các bên tự thoả thuận lại. Vì thế nên thoả thuận từ trước, bằng văn bản, trước khi bắt tay vào làm.

Hậu quả khi không thoả thuận trước rất cụ thể. Sản phẩm đã sẵn sàng để nộp đơn, nhưng một bên góp vốn không ký, nên không nộp được. Hoặc nhà thiết kế tự do cho rằng mình mới là tác giả và tự bỏ chi phí, trong khi công ty nghĩ mình đã thuê họ.

Bài này dừng ở nguyên lý. Một hợp đồng thuê thiết kế, một hợp đồng hợp tác nghiên cứu, một thoả thuận góp vốn nên ghi gì về quyền là câu hỏi cho người làm nghề, và nên hỏi trước khi ký.

4

Đường thứ tư là giữ ở Việt Nam rồi mang hàng sang nước khác

Bài 1 đã nói quyền này dừng ở biên giới: theo Điều 93, văn bằng Việt Nam chỉ có hiệu lực trong nước. Một sản phẩm được bảo hộ đầy đủ ở Việt Nam có thể hoàn toàn không có quyền gì ở thị trường nó sắp sang.

Theo những gì chúng tôi thấy, ở nước ngoài thứ hay bị lấy trước nhất là cái tên và hình dáng, vì đó là hai thứ ai nhìn hàng cũng thấy. Không cần tháo máy, không cần đọc tài liệu kỹ thuật. Chỉ cần một tờ giới thiệu ở hội chợ, một trang bán hàng, hay một chuyến hàng đầu tiên là đủ để người khác biết cái tên nào đang bán được.

Ở Việt Nam, Điều 90 khoản 2 áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên cho cả nhãn hiệu. Ở nước khác thì phải hỏi luật của chính nước đó. Sách của chúng tôi ghi lại những ca thương hiệu Việt bị người khác đăng ký trước ở thị trường mình đang bán. Có ca lấy lại được, nhưng mất nhiều năm.

Điều cần nhớ là thứ tự. Câu hỏi «mình đã có quyền ở nước đó chưa» phải được hỏi trước khi chào hàng, trước khi đi hội chợ ở nước đó, trước khi gửi mẫu cho nhà phân phối. Hỏi sau khi đã có đơn hàng là muộn, vì lúc đó tên và hình dáng sản phẩm đã lộ ra cho người khác thấy.

Bảng tổng hợp bốn đường làm mất quyền

ĐườngMất cái gìĐiều luật liên quanDấu hiệu đang hở
Nói ra trước khi giữtính mới của sáng chế, kiểu dángĐiều 60, Điều 65mẫu đã lên mạng, đã đi hội chợ, mà chưa ai hỏi người làm nghề
Đưa bản vẽ không có thoả thuậntính mới, bí mật kinh doanh, quyền nộp đơn trướcĐiều 60 khoản 2, Điều 84, Điều 90bản vẽ gửi đi không có điều khoản giữ kín
Không rõ ai là chủquyền đăng ký, hoặc khả năng nộp đơnĐiều 86nhiều bên góp công, góp tiền mà chưa có văn bản về quyền
Giữ ở Việt Nam rồi mang đi nước khácmọi quyền ở nước đó, nhất là tên và hình dángĐiều 90, Điều 93đã chào hàng ở nước ngoài mà chưa hỏi đã có quyền ở đó chưa

Hãy chụp bảng này lại. Mỗi khi dự án có thêm một việc mới, đối chiếu việc đó với cột cuối.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Tưởng ký một bản cam kết giữ kín là đủ. Nhóm cho đối tác ký một bản cam kết rồi gửi toàn bộ hồ sơ, coi như đã an toàn. Người ta nghĩ vậy vì tờ giấy có chữ ký trông như một tấm khiên. Nhưng cam kết chỉ ràng buộc người đã ký. Nó không ngăn một bên thứ ba tự nghĩ ra cùng giải pháp rồi nộp đơn, và nó không thay được văn bằng. Hậu quả rơi vào chủ sản phẩm: khi bị lộ, họ chỉ còn quyền đòi bên đã ký, mà điều đó thường khó và lâu. Cách tránh là coi thoả thuận giữ kín là một lớp, không phải lớp cuối cùng. Vẫn chỉ cho thấy đúng phần cần thấy, và vẫn hỏi người làm nghề về việc nộp đơn.

Tin rằng mình làm ra trước thì mình thắng. Người ta tin vậy vì thấy hợp lẽ phải. Nhưng ở Việt Nam, văn bằng sáng chế, kiểu dáng và nhãn hiệu theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên ở Điều 90. Làm ra trước chỉ giúp được khi bạn chứng minh được thứ của mình đã được công bố trước, và việc chứng minh tốn nhiều năm, như ca ở phần ví dụ. Hậu quả rơi vào người làm ra trước mà nộp đơn sau. Cách tránh là hỏi người làm nghề về việc nộp đơn ngay khi có một giải pháp cụ thể đáng giữ.

Chỉ lo giữ phần kỹ thuật mà quên cái tên và hình dáng. Người kỹ thuật dồn sức vào cơ cấu, vì đó là phần tốn công nhất. Nhưng như mục 4 đã nói, cái bị lấy trước thường là tên và dáng, vì chúng dễ thấy nhất. Hậu quả rơi vào công ty khi sang thị trường mới: hàng của chính mình không được dùng tên của mình. Cách tránh là với mỗi thị trường định sang, hỏi cả ba thứ: tên, dáng, và cơ cấu.

Để ý tới chuyện này khi đã có đơn hàng xuất khẩu. Người ta làm vậy vì trước khi có đơn thì chưa thấy cần. Hậu quả là cả bốn đường cùng mở một lúc: mẫu đã gửi đi, bản vẽ đã tới xưởng, tên đã lên tờ chào hàng. Cách tránh là đặt câu hỏi về quyền từ lúc chọn thị trường, như bài 5 sẽ nói.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Đây là một ca thật ở Việt Nam, có bài báo công khai, bạn tra lại được. Đây là ca làm được: bên bị hại lấy lại được.

Doanh nghiệp Duy Lợi làm võng xếp. Kiểu dáng khung võng đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, ngày nộp đơn 23 tháng 3 năm 2000. Tháng 9 năm 2001, doanh nghiệp xuất một công-te-nơ hàng sang Hoa Kỳ, rồi không thấy đơn hàng tiếp. Tra ra thì một doanh nhân ở Đài Loan đã nộp đơn ở Hoa Kỳ ngày 15 tháng 8 năm 2001, cho một khung võng có kiểu dáng tương tự.

Văn bằng Việt Nam không có hiệu lực ở Hoa Kỳ. Phía Duy Lợi phải chứng minh kiểu dáng của mình đã được công bố trước ngày người kia nộp đơn. Ngày 29 tháng 4 năm 2004, họ gửi khiếu nại tới Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, cơ quan này huỷ văn bằng kia.

Ca võng xếp: bằng kiểu dáng ở Việt Nam không giữ được hàng ở Hoa Kỳ, và lấy lại quyền ở đó mất nhiều năm.Các mốc theo thứ tự thời gian. Ở Việt Nam, 23 tháng 3 năm 2000: nộp đơn kiểu dáng khung võng, sau được cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp. Ở Hoa Kỳ, 15 tháng 8 năm 2001: một doanh nhân ở Đài Loan nộp đơn cho khung võng có kiểu dáng tương tự. Tháng 9 năm 2001: xuất một công-te-nơ hàng sang Hoa Kỳ, rồi không thấy đơn hàng tiếp. 29 tháng 4 năm 2004: gửi khiếu nại tới Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ. 19 tháng 9 năm 2005: cơ quan này huỷ văn bằng kia. Văn bằng Việt Nam không có hiệu lực ở Hoa Kỳ. MỘT KIỂU DÁNG, HAI NƯỚC ca võng xếp Duy Lợi, các mốc theo thứ tự thời gian Ở VIỆT NAM Ở HOA KỲ 23/3/2000 Nộp đơn kiểu dáng khung võng;sau đó được Cục Sở hữu trí tuệcấp bằng độc quyền kiểu dángcông nghiệp. 15/8/2001 Một doanh nhân ở Đài Loan nộpđơn ở Hoa Kỳ cho một khung võngcó kiểu dáng tương tự. Tháng 9/2001 Xuất một công-te-nơ hàng sangHoa Kỳ, rồi không thấy đơn hàngtiếp. 29/4/2004 Gửi khiếu nại tới Cơ quan Sángchế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ, chứngminh kiểu dáng của mình đã đượccông bố trước. 19/9/2005 Cơ quan này huỷ văn bằng kia. Văn bằng Việt Nam không có hiệu lực ở Hoa Kỳ. Giữ được ở Việt Namchưa phải là giữ được ở nơi bán hàng, và lấy lại thì mất nhiều năm. Ca võng xếp: bằng kiểu dáng ở Việt Nam không giữ được hàng ở Hoa Kỳ, và lấy lại quyền ở đó mất nhiều năm.Các mốc theo thứ tự thời gian. Ở Việt Nam, 23 tháng 3 năm 2000: nộp đơn kiểu dáng khung võng, sau được cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp. Ở Hoa Kỳ, 15 tháng 8 năm 2001: một doanh nhân ở Đài Loan nộp đơn cho khung võng có kiểu dáng tương tự. Tháng 9 năm 2001: xuất một công-te-nơ hàng sang Hoa Kỳ, rồi không thấy đơn hàng tiếp. 29 tháng 4 năm 2004: gửi khiếu nại tới Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ. 19 tháng 9 năm 2005: cơ quan này huỷ văn bằng kia. Văn bằng Việt Nam không có hiệu lực ở Hoa Kỳ. MỘT KIỂU DÁNG, HAI NƯỚC ca võng xếp Duy Lợi, các mốc theothứ tự thời gian Ở VIỆT NAM 23/3/2000 Nộp đơn kiểu dáng khung võng;sau đó được Cục Sở hữu trí tuệcấp bằng độc quyền kiểu dángcông nghiệp. Ở HOA KỲ 15/8/2001 Một doanh nhân ở Đài Loan nộpđơn ở Hoa Kỳ cho một khungvõng có kiểu dáng tương tự. Ở HOA KỲ Tháng 9/2001 Xuất một công-te-nơ hàng sangHoa Kỳ, rồi không thấy đơnhàng tiếp. Ở HOA KỲ 29/4/2004 Gửi khiếu nại tới Cơ quan Sángchế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ, chứngminh kiểu dáng của mình đã đượccông bố trước. Ở HOA KỲ 19/9/2005 Cơ quan này huỷ văn bằng kia. Văn bằng Việt Nam không cóhiệu lực ở Hoa Kỳ. Giữ được ởViệt Nam chưa phải là giữ đượcở nơi bán hàng, và lấy lại thìmất nhiều năm.
Hình 2. Các mốc của ca võng xếp chia theo hai nước, cho thấy văn bằng dừng lại ở biên giới.

Điều rút ra: giữ được ở Việt Nam chưa phải là giữ được ở nơi bán hàng, và lấy lại thì mất nhiều năm.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Bài 2 của lớp này — điều kiện «mới», và vì sao chính bạn công bố cũng tính.

«Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020», TS. Trần Anh Tuấn, chương 16, trang 388 tới 389 — ai có quyền nộp đơn khi có nhiều bên cùng góp; đọc để thấy nguyên lý, bỏ qua phần thủ tục.

Bên ngoài

Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ số 155/VBHN-VPQH và Luật số 131/2025/QH15 — đọc Điều 60, Điều 65, Điều 84, Điều 86, Điều 90 và Điều 93; khi đọc Điều 65, dùng khoản 4 theo luật năm 2025.

Bài «Cuộc chiến đòi lại thương hiệu đã mất tại thị trường nước ngoài», ngày 26 tháng 11 năm 2013, trên trang tapchicongthuong.vn — nguồn của phần ví dụ.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook