m.school › Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm › bài 3
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Kế hoạch một dự án có ghi lần thử với người dùng. Soát lại ngày tháng, bạn thấy lần thử đầu tiên rơi vào sau ngày đặt khuôn ba tuần. Dự án đang mắc kiểu nào, và nên sửa thế nào?
Dấu hiệu sớm của kiểu đưa vào quá muộn là lần thử đầu tiên rơi vào sau ngày đặt khuôn hoặc ngày xẻ vật liệu. Cách sửa là dời ít nhất một lần thử làm rẻ để học lên trước mốc ấy, dù chỉ là một mẫu bìa. Xem mục 1.
Câu 2. Bạn hỏi người phụ trách kỹ thuật của dự án đã gặp bao nhiêu người dùng thật. Câu trả lời là: chưa gặp ai, tôi làm theo hồ sơ nhóm tiếp thị gửi. Theo bài, cách sửa nào hợp nhất?
Đây là kiểu một nhóm hiểu người dùng rồi giao hồ sơ cho nhóm khác, và hồ sơ dù tốt vẫn không ghi hết điều chỉ người đứng tận nơi mới thấy. Cách sửa không đòi đổi cách chia phòng, chỉ cần một người nhóm kỹ thuật đi cùng. Xem mục 2.
Câu 3. Một đội làm máy sưởi điện dùng trong phòng trẻ nhỏ. Năm nhân viên văn phòng dùng thử mẫu một tuần, thấy ổn, và đội đề nghị đưa sản phẩm ra thị trường. Theo bài, vì sao như vậy chưa đủ?
Đây là kiểu làm rẻ để học ở chỗ cần làm kỹ để chốt. Lần thử để chốt phải dùng mẫu gần bản cuối, với người dùng thật, trong điều kiện gần ngoài đời; thêm nhân viên công ty không thay được việc đó. Xem mục 3.
Câu 4. Kế hoạch một dự án có đủ buổi quan sát, buổi nghĩ ý, bản mẫu và lần thử. Câu hỏi nào giúp bạn biết dự án có đang làm đủ tên năm nhịp mà không nhịp nào đổi được gì?
Không kể được quyết định nào đã đổi nhờ nhịp hiểu người dùng hay nhịp đem đi thử thì dự án đang ở kiểu thứ tư. Số buổi, số ý thì đếm được nhưng không cho biết điều đó. Xem mục 4.
Câu 5. Sau một dự án hỏng, giám đốc kết luận tư duy thiết kế không hợp với công ty mình và muốn bỏ hẳn. Theo bài, nên làm gì trước khi kết luận?
Lỗi thường nằm ở chỗ đặt cách nghĩ này, không nằm ở chính nó. Bỏ luôn thì công ty mất cả những nhịp đáng giữ ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Chọn một dự án sản phẩm đang chạy hoặc vừa xong ở công ty bạn. Trả lời bốn câu, mỗi câu kèm một bằng chứng tìm được trong hồ sơ, không trả lời theo trí nhớ. Một, lần thử đầu tiên với người dùng diễn ra ngày nào, và ngày đặt khuôn hoặc xẻ vật liệu là ngày nào. Hai, người phụ trách kỹ thuật đã gặp bao nhiêu người dùng thật. Ba, ở chặng kiểm chứng, người thử là ai. Bốn, kể một quyết định đã đổi nhờ một nhịp của tư duy thiết kế. Sau đó đánh dấu dự án đang mắc kiểu nào trong bốn kiểu, có thể nhiều hơn một.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, mỗi câu trả lời có một tệp, một biên bản hay một ngày tháng đi kèm. Hai, câu thứ tư được trả lời bằng một quyết định cụ thể, hoặc ghi thẳng là không có. Ba, bạn đánh dấu ít nhất một kiểu, vì hầu như dự án nào cũng mắc ít nhất một.
Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, câu thứ hai được trả lời bằng chữ «có gặp» mà không có số. Hai, câu thứ tư kể một ý mới nghĩ ra, không phải một quyết định đã đổi. Ba, không đánh dấu kiểu nào mà không có bằng chứng đi kèm.
Lời giải mẫu. Dự án: một dòng đèn bàn học có pin sạc. Câu một: lần thử đầu tiên diễn ra sau ngày đặt khuôn thân đèn ba tuần. Câu hai: người phụ trách kỹ thuật chưa gặp người dùng nào, chỉ đọc báo cáo của bộ phận bán hàng. Câu ba: người thử ở chặng kiểm chứng là năm nhân viên văn phòng. Câu bốn: không kể được quyết định nào. Dự án mắc cả bốn kiểu. Việc đầu tiên cho dự án sau là dời một lần thử với mẫu ghép tạm lên trước ngày đặt khuôn, và mời người phụ trách kỹ thuật đi cùng.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 đặt năm nhịp lên sáu chặng. Bài 2 nói ở ba chặng đầu mỗi nhịp phải để lại thứ gì. Bài này đi theo chiều ngược lại: khi cách nghĩ này bị đặt sai chỗ thì dự án hỏng ra sao. Chúng tôi gom các trường hợp hay gặp thành bốn kiểu. Cách gom này là của lớp này, dựa trên sách của MES LAB, không phải một bảng phân loại chung của ngành.
Kiểu này dễ nhận ra nhất. Đội làm sản phẩm theo cách cũ cho tới khi bản vẽ đã chốt, khuôn hoặc đồ gá đã đặt. Rồi có người đề nghị mở một buổi nghĩ ý, hoặc đem mẫu đi thử với người dùng để học. Buổi nghĩ ý vẫn ra ý hay. Lần thử vẫn cho thấy chỗ người dùng vướng. Nhưng lúc này mỗi điều học được chỉ còn hai lối: sửa rất đắt, hoặc lờ đi.
Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, ở bài 2 đã nói càng đi về sau thì mỗi lần sửa càng đắt. Kiểu thứ nhất là đúng quy luật ấy, nhìn từ phía tư duy thiết kế. Nhịp nghĩ ra ý và nhịp đem đi thử để học có giá trị nhất khi thứ phải sửa còn là giấy và bìa. Đặt chúng sau mốc chốt thiết kế thì cùng công sức ấy chỉ còn đổi được rất ít.
Vì sao người ta vẫn đưa vào muộn? Thường vì cách nghĩ này đến công ty giữa chừng một dự án. Một buổi tập huấn vừa xong, mọi người muốn dùng ngay, và dự án đang chạy là chỗ gần nhất để dùng. Cũng có khi đội chỉ nghĩ tới người dùng lúc thấy mẫu đầu tiên trông không ổn.
Một bối cảnh hay gặp ở Việt Nam, dựng ra để minh hoạ, không lấy từ xưởng nào: một xưởng đồ gỗ nội thất làm một mẫu ghế ăn mới. Bản vẽ đã chốt, gỗ đã xẻ cho cả lô, đồ gá đã làm xong. Lúc đó xưởng mới mời vài người ngồi thử mẫu đầu. Họ nói lưng ghế hơi thẳng, ngồi lâu thì mỏi. Góp ý đúng, nhưng sửa độ nghiêng của lưng ghế nghĩa là làm lại đồ gá và bỏ một phần gỗ đã xẻ. Xưởng chọn giữ nguyên, và góp ý nằm lại trong sổ.
Dấu hiệu sớm của kiểu này: kế hoạch có ghi lần thử với người dùng, nhưng lần thử đầu tiên rơi vào sau ngày đặt khuôn hoặc ngày xẻ vật liệu. Cách sửa là dời ít nhất một lần thử làm rẻ để học lên trước mốc ấy, dù chỉ là một mẫu bìa hay một chiếc ghế ghép tạm.
Ở kiểu này, cách nghĩ được đưa vào đúng chặng, nhưng chỉ ở một nhóm. Một nhóm, thường là nhóm tiếp thị hoặc một đơn vị thiết kế thuê ngoài, đi quan sát người dùng, viết câu vấn đề, làm vài bản mẫu thô. Xong việc, họ chuyển một bộ hồ sơ cho nhóm kỹ thuật. Nhóm kỹ thuật làm phần còn lại mà không gặp người dùng lần nào.
Mất mát nằm ở lúc giao. Bộ hồ sơ có thể làm rất tốt, đúng như bài 2 dặn, mà vẫn không ghi lại được hết mọi điều. Có những điều chỉ người đứng tận nơi mới nhận ra: người dùng cầm sản phẩm bằng tay nào, họ bực ở chỗ nào mà không nói thành lời. Sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường có một câu ngắn ở phần về tư duy thiết kế: hiểu người dùng phải do người quan sát tận nơi. Sách viết câu ấy khi bàn chuyện nhờ máy tính tưởng tượng ra người dùng, nhưng lý lẽ cũng đúng ở đây: điều một người thấy tận nơi, khi được chép thành chữ cho người khác đọc, đã rơi mất một phần.
Vì sao người ta chia như vậy? Vì nó giống cách chia việc quen thuộc: mỗi phòng một phần, xong phần mình thì bàn giao. Nó cũng có vẻ tiết kiệm, vì kỹ sư không phải đi hiện trường.
Hậu quả rơi vào người dùng cuối, nhưng lộ ra muộn. Nhóm kỹ thuật gặp một chọn lựa nhỏ mà hồ sơ không nói tới, ví dụ đặt nút bấm ở đâu, và họ chọn theo cái dễ làm. Mỗi chọn lựa như vậy đều nhỏ. Cộng lại thì sản phẩm lệch khỏi điều người dùng cần, và không ai nói được nó lệch từ lúc nào.
Dấu hiệu sớm: hỏi người phụ trách kỹ thuật của dự án đã gặp bao nhiêu người dùng thật. Câu trả lời là chưa gặp ai thì dự án đang ở kiểu thứ hai. Cách sửa không đòi đổi cách chia phòng. Chỉ cần ít nhất một người của nhóm kỹ thuật đi cùng vài buổi quan sát, và có mặt ở các lần thử với người dùng ở chặng tìm và chọn phương án.
Bài 1 đã chia hai cách làm bản mẫu và đem đi thử: làm rẻ để học, và làm kỹ để chốt. Kiểu thứ ba là lấy cách thứ nhất thay cho cách thứ hai. Đội đã cho vài người cầm thử mẫu, thấy họ dùng được, và coi đó là đủ để đưa sản phẩm ra thị trường.
Lần thử làm rẻ để học có những giới hạn mà người làm biết rõ: ít người, thường là người quen hoặc nhân viên công ty, điều kiện dễ hơn ngoài đời, và mẫu chưa phải bản cuối. Nó đủ để biết hướng nào đáng đi tiếp. Nó không đủ để nói sản phẩm cuối cùng an toàn và dùng được với người dùng thật.
Kiểu này nguy nhất với hàng có yêu cầu an toàn: thiết bị có điện, có nhiệt, có áp lực, đồ dùng cho trẻ nhỏ, thiết bị dùng trong khám chữa bệnh. Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, ở bài 4 đã xếp những chỗ này vào loại bài toán mà tinh thần cứ thử rồi sửa làm hỏng việc. Bài này chỉ thêm một ý: ở những chỗ đó, đầu dự án vẫn dùng được tư duy thiết kế, nhưng chặng kiểm chứng phải làm kỹ để chốt.
Vì sao người ta mắc? Vì lần thử nhỏ cho kết quả đẹp rất sớm, và kết quả đẹp làm đội tin mình đã biết. Khi lịch dự án gấp, lần thử kỹ là thứ dễ bị cắt nhất, vì nó đắt và chậm.
Hậu quả rơi vào người dùng cuối, rồi vào người ký cho sản phẩm ra thị trường. Lỗi mà lần thử nhỏ không bắt được sẽ do người mua phát hiện, ở số lượng lớn, và lúc đó phải sửa bằng thu hồi hoặc đổi trả.
Dấu hiệu sớm: hồ sơ của chặng kiểm chứng chỉ có những lần thử với người trong công ty. Cách sửa là viết rõ trong kế hoạch lần thử nào để học, lần thử nào để chốt. Lần thử để chốt phải dùng mẫu gần với bản cuối, với người dùng thật, trong điều kiện gần với ngoài đời.
Kiểu này khó nhận ra nhất, vì trên giấy mọi thứ đều đủ. Kế hoạch dự án có đủ năm nhịp. Có buổi quan sát, có buổi nghĩ ý, có bản mẫu, có lần thử. Nhưng không nhịp nào làm thay đổi một quyết định nào của dự án. Đội làm năm nhịp như làm một danh sách việc, rồi đi tiếp theo đúng hướng đã định từ đầu.
Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, ở bài 2 đã đưa một phép kiểm: đi hết năm nhịp mà câu đề bài vẫn nguyên văn như hôm đầu thì rất có thể năm nhịp ấy chỉ là năm buổi họp. Bài này dùng lại phép kiểm đó cho cả dự án, và thêm một câu hỏi: hãy kể ra một quyết định mà dự án đã đổi vì một điều thấy ở nhịp hiểu người dùng hay ở nhịp đem đi thử. Không kể được quyết định nào thì dự án đang ở kiểu thứ tư.
Sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường nêu hai dạng hay gặp của kiểu này. Dạng thứ nhất là thử để chứng minh mình đúng: đội chọn người thử, chọn câu hỏi và chọn cách đọc kết quả sao cho hướng đã chọn được giữ lại. Dạng thứ hai là nhảy thẳng vào nghĩ ý khi chưa đặt lại vấn đề, nên mọi ý đều xoay quanh đề bài cũ.
Vì sao người ta mắc? Vì công ty thường đo việc dùng cách nghĩ mới bằng số buổi đã tổ chức. Số buổi thì đếm được, còn một quyết định đã đổi thì khó đếm.
Hậu quả rơi vào công ty và vào chính cách nghĩ này. Công ty tốn thời gian mà không được gì. Sau vài dự án như vậy, người ta kết luận tư duy thiết kế không có tác dụng, trong khi nó chưa từng được dùng thật. Lớp Những chỗ tư duy thiết kế không dùng được, và những lời phê bình nó, mã DM-04, khi mở, sẽ bàn rộng hơn về những lời phê bình kiểu này.
Cách sửa là ghi lại, ở cuối mỗi nhịp, điều đã đổi nhờ nhịp ấy. Nếu không có gì đổi, ghi rõ là không có gì đổi, rồi hỏi vì sao.
| Kiểu | Dấu hiệu sớm | Hậu quả rơi vào ai | Cách sửa |
|---|---|---|---|
| Đưa vào quá muộn | lần thử đầu tiên với người dùng rơi vào sau ngày đặt khuôn hoặc ngày xẻ vật liệu | công ty phải sửa rất đắt, hoặc người dùng phải chịu chỗ đã biết là chưa ổn | dời ít nhất một lần thử làm rẻ để học lên trước mốc chốt thiết kế |
| Một nhóm hiểu người dùng rồi giao hồ sơ cho nhóm khác | người phụ trách kỹ thuật chưa gặp người dùng thật nào | người dùng cuối, qua nhiều chọn lựa nhỏ mà hồ sơ không nói tới | ít nhất một người của nhóm kỹ thuật đi quan sát và dự các lần thử |
| Làm rẻ để học ở chỗ cần làm kỹ để chốt | hồ sơ kiểm chứng chỉ có lần thử với người trong công ty | người dùng cuối, rồi người ký cho sản phẩm ra thị trường | lần thử để chốt dùng mẫu gần bản cuối, người dùng thật, điều kiện gần ngoài đời |
| Làm đủ tên năm nhịp mà không đổi được gì | không kể được quyết định nào đã đổi nhờ một nhịp | công ty tốn công, và cách nghĩ này bị kết luận là vô ích | cuối mỗi nhịp ghi điều đã đổi, hoặc ghi rõ là không có |
Hai kiểu đầu là sai về thời điểm và người làm. Hai kiểu sau là sai về cách làm. Khi soát một dự án đang chạy, hỏi lần lượt bốn dấu hiệu ở cột thứ hai.
Đổ lỗi cho tư duy thiết kế khi lỗi nằm ở chỗ đặt nó. Sau một dự án hỏng theo một trong bốn kiểu, người ta kết luận cách nghĩ này không hợp với công ty mình. Người ta sai vì chỉ nhìn kết quả cuối, không soát lại cách nghĩ ấy đã được đặt ở đâu trong dự án. Hậu quả rơi vào các dự án sau: công ty bỏ luôn những nhịp đáng giữ, kể cả ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, nơi chúng có tác dụng nhất. Cách tránh là trước khi kết luận, soát dự án theo bốn dấu hiệu trong bảng tổng hợp.
Chữa kiểu thứ nhất bằng cách dồn hết sang đầu dự án rồi bỏ hẳn ở ba chặng sau. Đội rút kinh nghiệm từ một lần đưa vào quá muộn, nên lần sau làm thật kỹ ở ba chặng đầu, rồi coi như xong. Người ta sai vì đọc bài học thành không bao giờ được dùng cách nghĩ này sau mốc chốt thiết kế. Hậu quả rơi vào người dùng cuối: những lần đổi chi tiết vì lý do kỹ thuật không còn ai đối chiếu với câu vấn đề. Cách tránh là giữ ba chỗ mà bài 1 mục 4 đã nêu, nhất là lần thử với người dùng thật ở chặng kiểm chứng.
Tưởng đội càng có nhiều buổi nghĩ ý thì càng đang làm đúng cách nghĩ này. Người ta đếm số buổi, số ý, số bản mẫu để báo cáo. Người ta sai vì những con số ấy dễ đếm, còn điều đã đổi trong dự án thì khó đếm. Hậu quả rơi vào người duyệt dự án: họ thấy nhiều việc đã làm và tưởng dự án đang đi tốt, trong khi dự án có thể đang ở kiểu thứ tư. Cách tránh là thay câu hỏi đã làm bao nhiêu buổi bằng câu hỏi đã đổi được quyết định nào.
Ví dụ dưới đây là văn bản hướng dẫn công khai của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, tra được bằng tên «Applying Human Factors and Usability Engineering to Medical Devices».
Văn bản ra năm 2016, sửa gần nhất năm 2026, và tách hai loại thử. Loại thứ nhất là đánh giá trong lúc thiết kế (formative evaluation), để tìm điểm mạnh, điểm yếu và lỗi dùng chưa lường trước. Loại này làm được với mẫu thô, lặp tới khi thiết kế sẵn sàng, và nhân viên công ty được làm người thử. Loại thứ hai là phép thử xác nhận ở cuối quá trình phát triển (human factors validation testing), với người dùng đại diện cho người dùng thật, trên bản thiết kế cuối, trong điều kiện gần thật.
Văn bản ghi: nếu không đánh giá trong lúc thiết kế mà tới phép thử cuối mới thấy lỗi thiết kế, thì phép thử cuối thành ra một lần đánh giá trong lúc thiết kế.
Nhìn theo bài này: câu đó tả đúng kiểu đưa vào quá muộn, còn cách tách hai loại thử là cách tránh kiểu thứ ba. Văn bản này khác quy định kiểm soát thiết kế đã nhắc ở lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03.
Của MES LAB
Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, bài 4 — nói loại bài toán nào thì tinh thần cứ thử rồi sửa làm hỏng việc. Đọc cùng mục 3 của bài này.
Bài 1 của lớp này — chia làm rẻ để học và làm kỹ để chốt, nền cho kiểu thứ ba.
Bên ngoài
"Applying Human Factors and Usability Engineering to Medical Devices", Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ — văn bản ở phần ví dụ. Mục 6.4.3 nói về đánh giá trong lúc thiết kế, mục 8 nói về phép thử xác nhận ở cuối.
"The Design of Everyday Things", Don Norman — sách về lỗi người dùng mắc phải vì thiết kế, đọc để thấy vì sao lần thử kỹ ở cuối không thay được những lần thử sớm.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.