m.school › Dữ liệu nào dùng được trong phát triển sản phẩm › bài 1

Bài 1 · Quanh một sản phẩm có những loại dữ liệu nào

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 139 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ kể ra được các loại dữ liệu đang có quanh một sản phẩm, xếp theo chặng mà chúng sinh ra. Chỉ ra được ít nhất ba nguồn dữ liệu đã nằm sẵn trong công ty bạn mà nhóm làm sản phẩm chưa dùng tới. Nói được một bộ dữ liệu được ghi ra để làm việc gì, và vì sao phải biết điều đó trước khi dùng lại nó cho câu hỏi của mình.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Trong một buổi họp, người trình bày nói «bộ phận công tắc đang là chỗ yếu của sản phẩm». Theo bài, câu đó thuộc loại nào trong ba thứ hay bị gọi gộp làm một?

  2. Câu 2. Bài xếp dữ liệu quanh một sản phẩm theo ba chặng. Chặng nào vừa nhiều dữ liệu vừa hay bị nhóm làm sản phẩm bỏ quên?

  3. Câu 3. Một nhóm có bảng thống kê cho biết bộ phận nào bị thay nhiều nhất. Theo bài, điểm mù của loại dữ liệu đếm được này là gì?

  4. Câu 4. Hồ sơ bảo hành của phòng dịch vụ được nhóm làm sản phẩm dùng lại. Theo bài, bộ dữ liệu này bỏ sót những ai?

  5. Câu 5. Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho biết bình quân mỗi hộ có 3,5 người. Theo bài, con số này không nói được điều gì?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Chọn một sản phẩm công ty bạn đang bán. Kẻ một bảng ba cột theo ba chặng ở mục 2. Trong mỗi cột, ghi tên những bộ dữ liệu đang thật sự tồn tại: ai giữ, ghi dưới dạng gì, ghi từ bao giờ. Ghi cả những thứ không ở dạng bảng số, như biên bản sửa chữa hay ghi chép của người đi hội chợ. Với mỗi bộ, đánh một dấu nếu nhóm làm sản phẩm đã từng mở nó ra trong mười hai tháng qua. Việc này nên làm trong một buổi, bằng cách đi hỏi ba tới bốn người ở ba phòng khác nhau.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: cả ba cột đều có tên bộ dữ liệu; ít nhất một bộ là dữ liệu kể lại chứ không phải bảng số; và có ít nhất hai bộ chưa từng được nhóm làm sản phẩm mở ra. Dấu hiệu còn sai: cột sau khi bán để trống, vì đó thường là cột nhiều dữ liệu nhất chứ không phải ít nhất; hoặc bạn viết ra toàn những bộ dữ liệu mình mong có thay vì những bộ đang có thật.

Lời giải mẫu. Sản phẩm dựng ra để minh hoạ: một chiếc bàn là hơi nước. Trước khi làm: bảng giá và thông số của hàng cùng loại đang bán, do phòng kinh doanh lập, cập nhật hằng quý, nhóm đã mở; các đánh giá khách viết trên sàn, chưa ai đọc có hệ thống. Trong khi làm: biên bản thử độ bền và sổ ghi các lần đổi thiết kế, do phòng kỹ thuật giữ, nhóm đã mở. Sau khi bán: phiếu bảo hành và biên bản sửa chữa ở trung tâm dịch vụ, giữ từ ba năm nay, nhóm chưa mở lần nào; lý do đổi trả ghi trong hệ thống bán hàng, chưa mở. Chỗ trống rõ nhất nằm ở cột thứ ba, và đó cũng là chỗ rẻ nhất để bắt đầu.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Lớp này nói về dữ liệu quanh một sản phẩm: có những loại nào, loại nào trả lời được câu hỏi nào, và loại nào trông có vẻ hữu ích mà thật ra không nói lên điều gì. Lớp dừng ở mức nguyên lý và cách nghĩ. Lớp không dạy cách xử lý dữ liệu của một ngành cụ thể, không hướng dẫn thao tác trên một công cụ nào, và không đưa mẫu bảng tính nào. Còn việc trợ lý máy giúp được gì trên đống dữ liệu ấy thì sẽ có một lớp riêng: lớp Trợ lý AI giúp được việc gì, và không giúp được việc gì, mã AI-02, sẽ mở sau. Bài đầu làm một việc hẹp: dựng bản đồ các loại dữ liệu đang có quanh một sản phẩm.

1

Dữ liệu là dấu vết ghi lại được của một việc đã xảy ra, còn kết luận là thứ người ta rút ra từ nó

Dữ liệu (data) là dấu vết ghi lại được của một việc đã xảy ra. Một dòng trong sổ kho, một phiếu bảo hành, một số đo trên bàn thử, một câu khách viết sau khi mua hàng: mỗi thứ đó là một mẩu dữ liệu.

Việc đầu tiên cần làm là tách ba thứ hay bị gọi gộp làm một.

Thứ nhất là dữ liệu, tức dấu vết của việc đã xảy ra. Số phiếu bảo hành nhận được trong quý vừa rồi là một mẩu dữ liệu. Thứ hai là thông tin, tức dữ liệu đã được sắp lại để trả lời một câu hỏi. Vẫn số phiếu bảo hành ấy, chia theo bộ phận bị hỏng và xếp từ nhiều tới ít, đã thành thông tin. Thứ ba là kết luận, tức câu người ta rút ra. Câu «bộ phận công tắc đang là chỗ yếu của sản phẩm» là một kết luận.

Ba thứ này hay bị gộp vì chúng thường nằm cạnh nhau trên cùng một trang chiếu. Nhưng kết luận là của người, không phải của dữ liệu. Cùng một bảng số, hai người có thể rút ra hai kết luận khác nhau, mà người ngồi nghe thì chỉ nhớ được kết luận. Vì vậy khi nghe một câu kết luận, việc nên làm là hỏi ngược lại: câu này dựa trên dấu vết nào, và dấu vết ấy còn xem lại được không.

Cũng cần tách dữ liệu khỏi ý kiến. Ý kiến là điều một người tin. Câu «khách chê sản phẩm nặng» có thể chỉ là ý kiến của một người bán hàng, mà cũng có thể là dữ liệu, nếu đó là thứ đếm được trong những đánh giá khách đã viết ra. Chữ giống hệt nhau, giá trị khác hẳn nhau. Cách phân biệt là hỏi một câu: câu này ghi lại một việc đã xảy ra, hay nói ra điều ai đó tin là đúng.

Cuối cùng, một mẩu dữ liệu chỉ dùng được khi đi kèm bốn thứ: nó đo cái gì, đo bằng cách nào, đo lúc nào, và đo trên ai hoặc trên cái gì. Một con số bị tách khỏi bốn thứ ấy thì không còn là dữ liệu nữa, nó chỉ còn là một con số. Bài 2 sẽ lấy một cặp số rất quen trong nghề bán hàng để cho thấy chuyện gì xảy ra khi điều này bị bỏ qua.

2

Xếp dữ liệu theo chặng nó sinh ra thì bạn thấy ngay mình đang trống chỗ nào

Dữ liệu quanh một sản phẩm nằm rải ở nhiều phòng ban. Mỗi phòng giữ một mảnh, và thường không ai có bản đồ chung. Một cách xếp dễ nhớ là xếp theo chặng: dữ liệu sinh ra trước khi làm, trong khi làm, và sau khi bán.

Trước khi làm. Đây là dữ liệu về thị trường và về người dùng: quy mô và cơ cấu của nhóm người mua, giá và thông số của những sản phẩm đang bán, đánh giá khách viết trên các sàn thương mại điện tử, ghi chép của người đi thăm chợ và thăm cửa hàng, lời người bán lẻ kể lại, các quy định và tiêu chuẩn mà sản phẩm phải theo, và những bản mô tả sáng chế đã công bố trong các kho công khai.

Trong khi làm. Dữ liệu chặng này do chính nhóm sinh ra: số đo trên bàn thử, kết quả thử độ bền, số lần mẫu hỏng và hỏng ở chỗ nào, thời gian và chi phí của từng chặng, danh sách các lần đổi thiết kế kèm lý do đổi, phản hồi thu được khi đưa bản mẫu cho người dùng thử. Loại này quý vì hai lẽ: nó được sinh ra để trả lời đúng câu hỏi của nhóm, và ngoài nhóm ra thì không ai có nó.

Sau khi bán. Số hàng đã giao vào kênh phân phối, số hàng người dùng cuối đã mua, lượng hàng còn nằm ở kênh, phiếu bảo hành, biên bản sửa chữa, lý do đổi trả, câu hỏi gửi tới bộ phận chăm sóc khách hàng, đánh giá trên sàn. Đây là chặng nhiều dữ liệu, và cũng là chặng hay bị nhóm làm sản phẩm bỏ quên, vì dữ liệu nằm ở phòng khác và được ghi cho mục đích khác.

Lấy một chiếc quạt điện để bàn làm ví dụ dựng ra cho dễ hình dung. Chặng trước khi làm cho biết người mua thường chọn quạt ở khoảng giá nào và hay phàn nàn chuyện gì. Chặng trong khi làm cho biết cánh quạt chạy liên tục bao lâu thì nóng, và mẫu hỏng ở mối nối nào. Chặng sau khi bán cho biết sau sáu tháng thì bộ phận nào phải thay nhiều nhất.

Ba chặng trả lời ba câu khác nhau: nên làm gì, thiết kế có đạt không, và sản phẩm sống ra sao trong tay người dùng. Thiếu chặng nào thì chỗ đó trống. Phần lớn công ty có đủ cả ba chặng trên giấy tờ, nhưng khi ngồi bàn bản kế tiếp thì chỉ một chặng được mang ra.

Ba chặng sinh ra dữ liệu quanh một sản phẩm, và mỗi chặng trả lời một câu hỏi khác nhau.Ba chặng nối nhau. Trước khi làm, về thị trường và về người dùng: giá và thông số của hàng đang bán, đánh giá khách viết trên sàn, ghi chép đi chợ và đi cửa hàng, lời người bán lẻ, quy định và tiêu chuẩn, bản mô tả sáng chế đã công bố; trả lời câu nên làm gì. Trong khi làm, do chính nhóm sinh ra: số đo trên bàn thử, kết quả thử độ bền, số lần mẫu hỏng và chỗ hỏng, thời gian và chi phí từng chặng, các lần đổi thiết kế kèm lý do, phản hồi khi cho người dùng thử bản mẫu; trả lời câu thiết kế có đạt không. Sau khi bán, chặng hay bị nhóm làm sản phẩm bỏ quên: hàng giao vào kênh, hàng người dùng cuối đã mua, lượng tồn ở kênh, phiếu bảo hành, biên bản sửa chữa, lý do đổi trả, câu hỏi gửi bộ phận chăm sóc khách hàng, đánh giá trên sàn; trả lời câu sản phẩm sống ra sao trong tay người dùng. Thiếu chặng nào thì chỗ đó trống. BA CHẶNG SINH RA DỮ LIỆU dữ liệu quanh một sản phẩm, xếp theo chặng mà nó sinh ra Trước khi làm Về thị trường và vềngười dùng. Giá và thông số củahàng đang bán. Đánhgiá khách viết trênsàn. Ghi chép đichợ và đi cửa hàng.Lời người bán lẻ.Quy định và tiêuchuẩn. Bản mô tảsáng chế đã côngbố. Trả lời: nên làmgì. Trong khi làm Do chính nhóm sinhra. Số đo trên bàn thử.Kết quả thử độ bền.Số lần mẫu hỏng vàchỗ hỏng. Thời gianvà chi phí từngchặng. Các lần đổithiết kế kèm lý do.Phản hồi khi chongười dùng thử bảnmẫu. Trả lời: thiết kếcó đạt không. Sau khi bán Chặng hay bị nhómlàm sản phẩm bỏquên. Hàng giao vào kênh.Hàng người dùngcuối đã mua. Lượngtồn ở kênh. Phiếubảo hành. Biên bảnsửa chữa. Lý do đổitrả. Câu hỏi gửi bộphận chăm sóc kháchhàng. Đánh giá trênsàn. Trả lời: sản phẩmsống ra sao trongtay người dùng. Thiếu chặng nào thì chỗ đó trống. Phần lớn công ty có đủ cả ba chặngtrên giấy tờ, nhưng khi ngồi bàn bản kế tiếp thì chỉ một chặng đượcmang ra. Ba chặng sinh ra dữ liệu quanh một sản phẩm, và mỗi chặng trả lời một câu hỏi khác nhau.Ba chặng nối nhau. Trước khi làm, về thị trường và về người dùng: giá và thông số của hàng đang bán, đánh giá khách viết trên sàn, ghi chép đi chợ và đi cửa hàng, lời người bán lẻ, quy định và tiêu chuẩn, bản mô tả sáng chế đã công bố; trả lời câu nên làm gì. Trong khi làm, do chính nhóm sinh ra: số đo trên bàn thử, kết quả thử độ bền, số lần mẫu hỏng và chỗ hỏng, thời gian và chi phí từng chặng, các lần đổi thiết kế kèm lý do, phản hồi khi cho người dùng thử bản mẫu; trả lời câu thiết kế có đạt không. Sau khi bán, chặng hay bị nhóm làm sản phẩm bỏ quên: hàng giao vào kênh, hàng người dùng cuối đã mua, lượng tồn ở kênh, phiếu bảo hành, biên bản sửa chữa, lý do đổi trả, câu hỏi gửi bộ phận chăm sóc khách hàng, đánh giá trên sàn; trả lời câu sản phẩm sống ra sao trong tay người dùng. Thiếu chặng nào thì chỗ đó trống. BA CHẶNG dữ liệu quanh một sản phẩm, xếptheo chặng mà nó sinh ra Trước khi làm Về thị trường và về người dùng. Giá và thông số của hàng đangbán. Đánh giá khách viết trênsàn. Ghi chép đi chợ và đi cửahàng. Lời người bán lẻ. Quyđịnh và tiêu chuẩn. Bản mô tảsáng chế đã công bố. Trả lời: nên làm gì. Trong khi làm Do chính nhóm sinh ra. Số đo trên bàn thử. Kết quảthử độ bền. Số lần mẫu hỏng vàchỗ hỏng. Thời gian và chi phítừng chặng. Các lần đổi thiếtkế kèm lý do. Phản hồi khi chongười dùng thử bản mẫu. Trả lời: thiết kế có đạtkhông. Sau khi bán Chặng hay bị nhóm làm sản phẩmbỏ quên. Hàng giao vào kênh. Hàng ngườidùng cuối đã mua. Lượng tồn ởkênh. Phiếu bảo hành. Biên bảnsửa chữa. Lý do đổi trả. Câuhỏi gửi bộ phận chăm sóc kháchhàng. Đánh giá trên sàn. Trả lời: sản phẩm sống ra saotrong tay người dùng. Thiếu chặng nào thì chỗ đótrống. Phần lớn công ty có đủcả ba chặng trên giấy tờ, nhưngkhi ngồi bàn bản kế tiếp thìchỉ một chặng được mang ra.
Hình 1. Ba chặng của một sản phẩm, và dữ liệu sinh ra ở từng chặng.
3

Dữ liệu đếm được và dữ liệu kể lại trả lời hai loại câu hỏi khác nhau

Ngoài cách xếp theo chặng, còn một cách xếp nữa: theo hình dạng của chính dữ liệu.

Dữ liệu đếm được (quantitative data) là thứ quy về số được: số phiếu bảo hành, số ngày từ lúc đặt tới lúc giao, phần trăm hàng phải sửa, số đo độ ồn. Nó trả lời những câu có chữ bao nhiêu: bao nhiêu người, bao nhiêu lần, bao lâu, chỗ nào nhiều hơn chỗ nào. Điểm mạnh của nó là cộng lại được và so sánh được giữa hai kỳ. Điểm mù của nó là nó không nói vì sao, và nó chỉ đếm được những thứ đã có người nghĩ ra cách đếm.

Dữ liệu kể lại (qualitative data) là thứ ở dạng lời: câu khách viết trong một đánh giá, ghi chép của người ngồi xem một thợ lắp ráp làm việc, lời người bán lẻ nói về những khách hỏi mà không mua, biên bản một cuộc gọi khiếu nại. Nó trả lời những câu khác hẳn: chuyện gì đang xảy ra, người ta làm thế trong hoàn cảnh nào, họ gọi thứ đó bằng tên gì. Điểm mạnh của nó là nó cho bạn thứ bạn chưa nghĩ tới. Điểm mù của nó là số người ít, nên nó không nói được chuyện này phổ biến tới đâu.

Hai loại này không xếp trên dưới nhau. Chúng dùng cho hai loại câu hỏi khác nhau, và dùng cạnh nhau thì mạnh hơn dùng riêng: con số chỉ ra chỗ cần nhìn, còn lời kể cho biết nhìn vào đó thì thấy gì. Một bảng thống kê cho thấy bộ phận nào bị thay nhiều nhất; vài cuộc nói chuyện với thợ sửa cho biết vì sao nó hỏng.

Một điều dễ nhầm: lời kể chỉ là dữ liệu khi nó được ghi lại và còn quay lại tra được. Nếu nó chỉ còn trong trí nhớ của một người đi khảo sát thì nó đã thành ý kiến của người đó, và nửa năm sau sẽ không ai kiểm lại được nữa. Muốn giữ nó thành dữ liệu thì phải ghi nguyên văn lời người ta nói, kèm chỗ nói và ngày nói, và ghi tách khỏi phần mình hiểu ra.

4

Phần lớn dữ liệu bạn dùng lại được sinh ra để làm một việc khác, nên phải biết nó sinh ra để làm gì

Có hai đường để có dữ liệu. Đường thứ nhất là tự đi thu cho đúng câu hỏi của mình, gọi là dữ liệu sơ cấp (primary data): tự đo, tự thử, tự đi hỏi. Đường thứ hai là dùng lại thứ người khác đã ghi cho việc của họ, gọi là dữ liệu thứ cấp (secondary data): số liệu thống kê công bố công khai, hồ sơ bảo hành của phòng dịch vụ, sổ bán hàng của phòng kinh doanh, đánh giá khách viết trên sàn.

Đường thứ hai rẻ hơn và nhanh hơn nhiều, nên phần lớn dữ liệu một nhóm làm sản phẩm dùng tới là loại này. Nó không phải loại hạng hai. Nhưng nó mang theo một tính chất phải nhớ: nó không được sinh ra cho câu hỏi của bạn, nên nó chỉ ghi những gì người lập ra nó cần ghi.

Ba trường hợp quen thuộc cho thấy điều đó. Hồ sơ bảo hành sinh ra để xử lý quyền lợi của khách, nên nó chỉ có những ca khách chịu mang sản phẩm tới trung tâm; người ở xa, người ngại đi, người vứt luôn một món rẻ tiền thì không nằm trong đó. Sổ bán hàng sinh ra để tính tiền, nên nó ghi người đã mua, chứ không ghi người đã cầm lên xem rồi đặt xuống. Số liệu thống kê của nhà nước sinh ra để làm chính sách, nên đơn vị của nó là hộ gia đình, là xã, là tỉnh, chứ không phải là nhóm người mua của bạn.

Vậy trước khi dùng lại một bộ dữ liệu, hãy trả lời bốn câu. Ai ghi nó. Ghi để làm gì. Ghi về những ai, và bỏ sót những ai. Ghi vào lúc nào, và từ lúc đó tới nay đã có gì đổi.

Bốn câu này không làm bộ dữ liệu tốt lên. Chúng làm một việc khác: chúng cho bạn biết bộ dữ liệu ấy trả lời được câu hỏi nào của bạn, và câu nào thì nó không trả lời được, dù nó nhiều tới đâu.

Bốn câu phải hỏi trước khi dùng lại một bộ dữ liệu người khác đã ghi cho việc của họ.Bốn câu: một, ai ghi nó; hai, ghi để làm gì; ba, ghi về những ai và bỏ sót những ai; bốn, ghi vào lúc nào và từ lúc đó tới nay đã có gì đổi. Ba ví dụ quen thuộc. Hồ sơ bảo hành sinh ra để xử lý quyền lợi của khách, nên chỉ có những ca khách chịu mang sản phẩm tới trung tâm. Sổ bán hàng sinh ra để tính tiền, nên ghi người đã mua chứ không ghi người đã cầm lên xem rồi đặt xuống. Số liệu thống kê của nhà nước sinh ra để làm chính sách, nên đơn vị là hộ gia đình, là xã, là tỉnh. Bốn câu này không làm bộ dữ liệu tốt lên; chúng cho biết bộ dữ liệu ấy trả lời được câu hỏi nào của bạn và câu nào thì không. BỐN CÂU TRƯỚC KHI DÙNG LẠI hỏi về một bộ dữ liệu người khác đã ghi cho việc của họ 1 Ai ghi nó. 2 Ghi để làm gì. 3 Ghi về những ai, và bỏ sótnhững ai. 4 Ghi vào lúc nào, và từ lúcđó tới nay đã có gì đổi. BA VÍ DỤ QUEN THUỘC Hồ sơ bảo hành Sinh ra để xử lýquyền lợi củakhách. Chỉ có những cakhách chịu mang sảnphẩm tới trung tâm. Sổ bán hàng Sinh ra để tínhtiền. Ghi người đã mua,không ghi người đãcầm lên xem rồi đặtxuống. Số liệu thống kêcủa nhà nước Sinh ra để làmchính sách. Đơn vị là hộ giađình, là xã, làtỉnh, chứ khôngphải nhóm người muacủa bạn. Bốn câu này không làm bộ dữ liệu tốt lên. Chúng cho bạn biết bộ dữliệu ấy trả lời được câu hỏi nào của bạn, và câu nào thì nó không trảlời được, dù nó nhiều tới đâu. Bốn câu phải hỏi trước khi dùng lại một bộ dữ liệu người khác đã ghi cho việc của họ.Bốn câu: một, ai ghi nó; hai, ghi để làm gì; ba, ghi về những ai và bỏ sót những ai; bốn, ghi vào lúc nào và từ lúc đó tới nay đã có gì đổi. Ba ví dụ quen thuộc. Hồ sơ bảo hành sinh ra để xử lý quyền lợi của khách, nên chỉ có những ca khách chịu mang sản phẩm tới trung tâm. Sổ bán hàng sinh ra để tính tiền, nên ghi người đã mua chứ không ghi người đã cầm lên xem rồi đặt xuống. Số liệu thống kê của nhà nước sinh ra để làm chính sách, nên đơn vị là hộ gia đình, là xã, là tỉnh. Bốn câu này không làm bộ dữ liệu tốt lên; chúng cho biết bộ dữ liệu ấy trả lời được câu hỏi nào của bạn và câu nào thì không. BỐN CÂU hỏi về một bộ dữ liệu người khác đãghi cho việc của họ 1 Ai ghi nó. 2 Ghi để làm gì. 3 Ghi về những ai, và bỏ sótnhững ai. 4 Ghi vào lúc nào, và từ lúcđó tới nay đã có gì đổi. BA VÍ DỤ Hồ sơ bảo hành Sinh ra để xử lý quyền lợi củakhách. Chỉ có những ca khách chịu mangsản phẩm tới trung tâm. Sổ bán hàng Sinh ra để tính tiền. Ghi người đã mua, không ghingười đã cầm lên xem rồi đặtxuống. Số liệu thống kê của nhànước Sinh ra để làm chính sách. Đơn vị là hộ gia đình, là xã,là tỉnh, chứ không phải nhómngười mua của bạn. Bốn câu này không làm bộ dữliệu tốt lên. Chúng cho bạnbiết bộ dữ liệu ấy trả lời đượccâu hỏi nào của bạn, và câu nàothì nó không trả lời được, dùnó nhiều tới đâu.
Hình 2. Bốn câu phải hỏi trước khi dùng lại một bộ dữ liệu người khác đã ghi.

Bảng tổng hợp các loại dữ liệu quanh một sản phẩm

ChặngDữ liệu thường cóTrả lời được câu hỏi nàoChỗ nó không nói được
Trước khi làm, về thị trường và người dùnggiá và thông số của hàng đang bán, đánh giá trên sàn, ghi chép đi chợ và đi cửa hàng, lời người bán lẻngười mua đang chọn theo cái gì, họ phàn nàn chuyện gìvì sao họ sẽ mua thứ chưa có trên thị trường
Trước khi làm, về luật lệ và kỹ thuậtquy định bắt buộc, tiêu chuẩn, bản mô tả sáng chế đã công bốsản phẩm phải đạt những gì, ai đã công bố giải pháp nàothị trường có muốn mua hay không
Trong khi làmsố đo trên bàn thử, số lần mẫu hỏng và chỗ hỏng, thời gian và chi phí từng chặng, các lần đổi thiết kếthiết kế có đạt mức đã đặt ra không, chỗ nào còn yếungười dùng thật sẽ dùng nó ra sao
Sau khi bán, về bán hànghàng giao vào kênh, hàng người dùng cuối đã mua, lượng tồn ở kênhhàng đang chạy tới đâu, tắc ở chặng nàovì sao người ta mua hoặc không mua
Sau khi bán, về cách sản phẩm sốngphiếu bảo hành, biên bản sửa chữa, lý do đổi trả, đánh giá và khiếu nạibộ phận nào hỏng nhiều, hỏng sau bao lâunhững người gặp trục trặc mà không báo lại

Chụp lại bảng này. Cột đáng đọc kỹ là cột cuối. Nó nhắc một điều dễ quên: thứ một bộ dữ liệu bỏ sót thì không bao giờ tự hiện ra khi bạn đọc chính bộ dữ liệu ấy.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Coi dữ liệu là bảng số của phòng kinh doanh. Nhóm kỹ thuật nghe tới chữ dữ liệu là nghĩ tới báo cáo doanh số, rồi cho rằng đó là việc của người khác. Người ta nghĩ vậy vì bảng số là thứ hay được chiếu lên trong các buổi họp, còn những thứ như biên bản sửa chữa hay ghi chép quan sát thì không ai gọi tên chúng là dữ liệu. Hậu quả rơi vào chính nhóm làm sản phẩm: họ ngồi trên một đống dấu vết về sản phẩm của mình mà không nhận ra, rồi đi hỏi lại từ đầu những thứ công ty đã biết. Cách tránh là dùng cách xếp theo chặng ở mục 2 và đi hỏi từng phòng xem họ đang ghi lại những gì, trước khi quyết định đi thu dữ liệu mới.

Bỏ quên dữ liệu đã có sau khi bán. Nhóm thiết kế bản kế tiếp dựa vào một đợt khảo sát mới, trong khi phiếu bảo hành, lý do đổi trả và đánh giá của khách về bản hiện tại vẫn nằm yên ở phòng dịch vụ. Người ta làm vậy vì dữ liệu hậu mãi bị coi là hồ sơ xử lý sự vụ, không phải là đầu vào cho thiết kế, và vì nó nằm ở một phòng khác với một người phụ trách khác. Hậu quả rơi vào khách hàng của bản kế tiếp: họ gặp lại đúng những trục trặc mà khách của bản trước đã báo. Cách tránh là gom các nguồn ấy về một chỗ và xếp thành nhóm vấn đề trước khi chốt danh sách việc cần sửa.

Chép con số ra khỏi bảng gốc rồi dùng lại. Một con số được chép từ báo cáo sang trang chiếu, rồi sang một trang chiếu khác, và tới lần thứ ba thì không còn ai nói được nó đo cái gì, đo lúc nào, đo trên bao nhiêu người. Người ta làm vậy vì chép một con số thì nhanh, còn mang theo cả định nghĩa của nó thì dài dòng. Hậu quả rơi vào người ra quyết định cuối cùng: họ nhìn một con số đã mất gốc mà tưởng là bằng chứng. Cách tránh là mỗi lần chép một con số thì chép kèm bốn thứ ở mục 1, và ghi luôn chỗ lấy nó ra.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là số liệu thật, công bố công khai, bạn tra lại được.

Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 do cơ quan thống kê quốc gia thực hiện. Kết quả công bố cho biết tại thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2019, cả nước có 96.208.984 người và 26.870.079 hộ dân cư, bình quân mỗi hộ có 3,5 người.

Cuộc điều tra này không sinh ra để phục vụ một nhóm làm sản phẩm nào. Nó sinh ra để làm chính sách. Nhưng con số bình quân mỗi hộ có 3,5 người thì một nhóm thiết kế đồ gia dụng dùng lại được, vì nó nói lên cỡ của hộ gia đình mà sản phẩm sẽ nằm trong đó.

Và nó cũng cho thấy giới hạn của dữ liệu dùng lại. Nó không nói hộ ấy nấu mấy bữa một ngày, bếp rộng bao nhiêu, hay ai trong nhà là người đi mua. Đơn vị của nó là hộ, vì người lập ra nó cần đơn vị ấy.

Điều rút ra: dữ liệu dùng lại cho bạn khung cảnh chung với giá rất rẻ, còn câu hỏi riêng của sản phẩm thì vẫn phải tự đi thu lấy.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

«Phát triển sản phẩm hướng thị trường», TS. Trần Anh Tuấn, chương 24 «Hậu mãi và vòng đời» — vì sao mỗi phiếu bảo hành, mỗi khiếu nại và mỗi đánh giá trên sàn thương mại điện tử là dữ liệu về cách sản phẩm đang được dùng, và vì sao nguồn này hay bị để nằm yên ở một phòng khác.

«Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, phiên bản 2026», TS. Trần Anh Tuấn, chương 5 «Thăm chợ, cuộn băng keo và 5 giờ sáng» — các nguồn dữ liệu quanh một sản phẩm trong hoàn cảnh Việt Nam: chợ đầu mối, người bán lẻ, đánh giá trên các sàn trong nước.

Bên ngoài

Thông cáo báo chí về kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, cơ quan thống kê quốc gia, công bố trên trang nso.gov.vn — nguồn của phần ví dụ; đọc để thấy một bộ dữ liệu công khai ghi những gì và không ghi những gì.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook