m.school › Dữ liệu nào dùng được trong phát triển sản phẩm › bài 2
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Theo bài, câu «xem thử khách hàng nghĩ gì về sản phẩm của mình» chưa dùng được vì nó thiếu những gì?
Một câu hỏi dùng được có ba phần: đối tượng là hỏi về ai, điều muốn biết là một số đếm hay một lý do, và khoảng thời gian. Câu trên không nói phần nào trong ba phần ấy, nên nó không chỉ được cho bạn loại dữ liệu nào. Xem mục 1.
Câu 2. Một công ty thấy con số hàng đẩy vào kênh phân phối tháng nào cũng đạt kế hoạch, trong khi lượng hàng tồn ở kênh tăng liên tục nhiều tuần. Theo bài, điều đó nghĩa là gì?
Hàng đẩy vào kênh trả lời câu nhà máy nên chạy bao nhiêu, còn hàng bán tới tay người dùng mới trả lời câu sản phẩm có được đón nhận không. Hàng vào kênh đều mà tồn kho tăng liên tục nghĩa là hàng đang chất kho, và chỗ tắc nằm ở chặng bán ra. Xem mục 2.
Câu 3. Dữ liệu cho thấy doanh số giảm trong đúng quý công ty đổi bao bì. Theo bài, việc nên làm tiếp theo là gì?
Hai thứ cùng đổi trong một quý mới chỉ là tương quan, chưa phải quan hệ nhân quả, mà trên biểu đồ thì hai chuyện đó trông giống hệt nhau. Việc nên làm là hỏi còn những gì đã đổi trong cùng kỳ, rồi đặt ít nhất hai cách giải thích cạnh nhau. Xem mục 3.
Câu 4. Nhóm muốn biết người ta có mua một sản phẩm chưa ai từng bán hay không. Theo bài, đường đi hợp lý là gì?
Không có dữ liệu nào về thứ chưa từng tồn tại. Dữ liệu bán hàng chỉ ghi những thứ đã được bày ra để bán. Với loại câu hỏi này thì đường đi là tạo ra dữ liệu mới bằng một bản mẫu thô đưa cho người dùng thật. Xem mục 3.
Câu 5. Theo bài, ba bảng cùng rút ra từ một hệ thống bán hàng thì được tính là mấy nguồn?
Ba bảng cùng rút ra từ một hệ thống vẫn là một nguồn trình bày theo ba cách. Hai nguồn độc lập là hai nguồn mà sai sót của nguồn này không kéo theo sai sót của nguồn kia. Xem mục 4.
Việc cần làm. Lấy một câu hỏi đang thật sự chặn một quyết định trong công việc của bạn. Viết lại nó cho đủ ba phần ở mục 1: đối tượng, điều muốn biết, khoảng thời gian. Viết thêm một dòng nói câu trả lời sẽ có hình dạng gì. Rồi kẻ ba cột: bộ dữ liệu bạn định dùng, phần câu hỏi mà nó trả lời được, phần câu hỏi mà nó không chạm tới. Cuối cùng, tìm một nguồn thứ hai độc lập với nguồn thứ nhất và ghi nó vào.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: cột thứ ba có chữ, nghĩa là bạn đã gọi tên được phần dữ liệu không trả lời được; nguồn thứ hai không rút ra từ cùng một hệ thống với nguồn thứ nhất; và bạn nói được câu trả lời sẽ có hình dạng gì trước khi mở dữ liệu ra. Dấu hiệu còn sai: cột thứ ba để trống, vì chưa có bộ dữ liệu nào trả lời trọn một câu hỏi thật; hoặc câu hỏi của bạn vẫn chưa có khoảng thời gian.
Lời giải mẫu. Ví dụ dựng ra để minh hoạ: một xưởng làm ba lô học sinh. Câu hỏi sau khi viết lại: «Trong sáu tháng qua, trong số ba lô bị trả lại, bao nhiêu phần trăm bị trả vì bục đường may ở quai, so với các lý do khác.» Hình dạng câu trả lời: một danh sách lý do xếp theo thứ tự nhiều ít, kèm phần trăm. Dữ liệu định dùng: ô ghi lý do trả hàng trong phần mềm bán hàng của xưởng. Phần nó trả lời được: thứ tự các lý do trong nhóm hàng đã bị trả lại. Phần nó không chạm tới: những người thấy bục quai nhưng tự khâu lại và chỉ im lặng không mua nữa, vì họ không để lại dấu vết nào trong hệ thống ấy. Nguồn thứ hai độc lập: đánh giá khách viết trên sàn. Nguồn thứ ba: hỏi bốn tới năm người bán lẻ xem khách mang ba lô quay lại vì chuyện gì.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 đã xếp xong tấm bản đồ: quanh một sản phẩm thì có những gì ghi lại được, và chúng nằm ở đâu. Bài này nối tấm bản đồ ấy với công việc thật: bạn đang cần trả lời một câu hỏi, và phải biết loại dữ liệu nào trả lời được nó. Đây là chỗ sai hay xảy ra nhất, và cũng là chỗ sai khó thấy nhất, vì lấy nhầm loại dữ liệu thì vẫn ra một con số, vẫn vẽ được biểu đồ, và vẫn trình bày được. Bài vẫn dừng ở mức nguyên lý: không hướng dẫn xử lý dữ liệu của một ngành nào, không nêu công cụ, không đưa mẫu bảng.
Phần lớn các cuộc đi tìm dữ liệu bắt đầu bằng một câu như «xem thử khách hàng nghĩ gì về sản phẩm của mình». Câu ấy nghe như một câu hỏi, nhưng nó không chỉ được cho bạn loại dữ liệu nào cả, vì nó không nói đối tượng nào, đo cái gì, và trong khoảng thời gian nào.
Một câu hỏi dùng được có ba phần. Phần thứ nhất là đối tượng: hỏi về ai hoặc về cái gì, nhóm nào, ở đâu. Phần thứ hai là điều muốn biết: một số đếm, một thứ tự, một lý do, một cách người ta làm. Phần thứ ba là khoảng thời gian: trong sáu tháng qua, trong mùa cao điểm, ở lần dùng đầu tiên.
Thử sửa câu trên theo ba phần đó. «Trong sáu tháng qua, những người đã mua sản phẩm và có gọi tới bộ phận chăm sóc khách hàng thì gọi vì những chuyện gì, và chuyện nào được nhắc nhiều nhất.» Câu này chỉ thẳng tới một bộ dữ liệu có thật, và người đi tìm biết mình phải mở cái gì ra.
Có một phép thử nhanh để biết câu hỏi đã đủ rõ chưa: nói trước xem câu trả lời sẽ có hình dạng gì. Nó sẽ là một con số kèm đơn vị? Một danh sách xếp theo thứ tự nhiều ít? Một đoạn mô tả cách người ta làm một việc? Một so sánh giữa hai nhóm? Nếu bạn chưa hình dung được hình dạng của câu trả lời, thì bạn cũng chưa biết loại dữ liệu nào cho ra được hình dạng ấy, và cuộc đi tìm sẽ dừng ở chỗ nhặt về bất cứ thứ gì sẵn có.
Còn một câu nữa nên hỏi trước khi bắt đầu: ai sẽ dùng câu trả lời này, và để quyết định việc gì. Nếu đằng sau câu hỏi không có một quyết định nào đang chờ, thì việc đi thu dữ liệu chưa gấp, và nên để công sức ấy cho câu hỏi đang chặn một quyết định thật.
Hàng từ nhà máy đi tới người dùng cuối qua hai bước, và mỗi bước cho một con số.
Bước thứ nhất là hàng rời nhà máy để vào kho của đại lý, siêu thị hay sàn bán hàng. Bên nhận ký nhận và trả tiền hoặc ghi công nợ. Con số này thường được gọi là hàng đẩy vào kênh phân phối (sell-in). Bước thứ hai là người dùng cuối đứng trước sản phẩm, quyết định bỏ tiền ra mua và mang nó về. Con số này là hàng bán tới tay người dùng (sell-out).
Trong sổ sách, cả hai đều có thể được gọi là doanh số. Nhưng chúng trả lời hai câu hỏi khác hẳn nhau. Con số thứ nhất trả lời câu «nhà máy nên chạy bao nhiêu, và kênh phân phối đang nhận được tới đâu». Con số thứ hai trả lời câu «sản phẩm này có được người mua đón nhận không».
Cái bẫy nằm ở chỗ con số thứ nhất dễ đo hơn nhiều. Nó có chứng từ, có ngày giao, có chữ ký. Con số thứ hai phải lấy từ phía bên kia, từ máy tính tiền của cửa hàng hoặc từ báo cáo của đại lý, nên nó về chậm hơn và nhiều khi không về. Kết quả là báo cáo thường dừng ở con số dễ đo, và cả công ty đọc nó như thể nó đang trả lời câu hỏi thứ hai.
Chỗ này dẫn tới một tình huống quen thuộc: hàng vào kênh đều đặn, báo cáo tháng nào cũng đạt, trong khi hàng nằm trên kệ không đi đâu cả. Lượng hàng còn tồn ở kênh tăng liên tục nhiều tuần mà con số đẩy vào kênh vẫn đạt kế hoạch, nghĩa là hàng đang chất kho chứ không phải đang bán được. Tới lúc kênh ngừng đặt thêm thì mọi thứ lộ ra cùng một lúc, và sản phẩm bị kết luận là hỏng, trong khi chỗ tắc nằm ở chặng bán ra.
Bài học chung rộng hơn chuyện bán hàng: trước khi dùng một con số, hãy hỏi nó được đo ở điểm nào trên đường đi của sự việc. Hai con số đo ở hai điểm khác nhau thì không thay nhau được, dù chúng mang cùng một cái tên.
Dữ liệu là dấu vết của việc đã xảy ra. Từ tính chất đó rút ra hai giới hạn mà không lượng dữ liệu nào bù được.
Giới hạn thứ nhất: dữ liệu cho thấy hai việc đi cùng nhau, chứ không nói việc này gây ra việc kia. Hai thứ cùng tăng trong một quý thì gọi là có tương quan (correlation); còn nói thứ này làm thứ kia xảy ra là nói về quan hệ nhân quả (causation). Hai chuyện đó khác nhau, nhưng trên một biểu đồ thì chúng trông y hệt nhau.
Vì vậy khi dữ liệu báo có chuyện không ổn, việc nên làm không phải là kết luận ngay, mà là hỏi: trong cùng khoảng thời gian ấy, còn những gì đã đổi. Đổi giá, đổi bao bì, đổi nhà cung cấp, đổi người phụ trách vùng, thêm một đối thủ mới, hay chỉ là mùa trong năm đã khác. Rồi đặt ít nhất hai cách giải thích cạnh nhau và đi tìm dữ liệu phân biệt được chúng. Một quyết định dựa trên cách giải thích đầu tiên nghĩ ra thường là quyết định sửa nhầm chỗ, và cái giá của nó không hiện ra trong bảng số.
Giới hạn thứ hai: không có dữ liệu nào về thứ chưa từng tồn tại. Câu hỏi «người ta có mua một sản phẩm như thế này không», khi sản phẩm ấy chưa ai bán bao giờ, là câu hỏi mà mọi bộ dữ liệu quá khứ đều chịu. Dữ liệu bán hàng chỉ ghi những thứ đã được bày ra để bán. Hồ sơ bảo hành chỉ ghi những thứ đã có người mua.
Với loại câu hỏi ấy, đường đi không phải là tìm thêm dữ liệu cũ, mà là tạo ra dữ liệu mới: làm một bản mẫu thô, đưa cho người dùng thật, và ghi lại họ làm gì với nó. Việc này sinh ra dữ liệu chưa ai có, và nó là dữ liệu đúng loại cho câu hỏi đang hỏi.
Cách thu nào cũng bỏ sót một phần của sự việc, và phần bị bỏ sót thì nằm ngoài tầm nhìn của chính cách thu đó. Đánh giá trên sàn cho số lượng lớn nhưng thiếu hoàn cảnh. Nói chuyện sâu với vài người dùng cho hoàn cảnh rất rõ nhưng số người ít. Lời người bán lẻ gom được quan sát từ rất nhiều khách qua thời gian, nhưng đi kèm cách nhìn riêng của người bán.
Cách xử lý là ghép nhiều nguồn có điểm mù khác nhau, rồi xem chúng có chỉ về cùng một chỗ không. Cách làm này gọi là tam giác hoá dữ liệu (triangulation). Với một quyết định thiết kế quan trọng, nên có ít nhất ba nguồn độc lập cùng chỉ về một hướng trước khi chốt.
Chữ độc lập là chữ then chốt. Ba bảng cùng rút ra từ một hệ thống bán hàng không phải là ba nguồn, đó vẫn là một nguồn trình bày theo ba cách. Hai nguồn độc lập là hai nguồn mà sai sót của nguồn này không kéo theo sai sót của nguồn kia: hồ sơ sửa chữa của trung tâm dịch vụ và lời kể của người bán lẻ ở một tỉnh khác là hai nguồn độc lập.
Và đây là phần dễ bị bỏ qua nhất: khi các nguồn lệch nhau, đừng chọn nguồn hợp ý mình. Chỗ lệch là một phát hiện, không phải một trục trặc cần dọn. Bảng số nói bộ phận này ít hỏng, trong khi thợ sửa nói tuần nào cũng gặp, thì khoảng cách giữa hai câu ấy đang chỉ vào một chỗ nào đó: có thể khách tự chữa lấy và không báo, có thể hai bên đang gọi tên hai thứ khác nhau bằng một chữ. Đi tìm lời giải thích cho chỗ lệch thường cho bạn nhiều hơn cả hai nguồn cộng lại.
| Câu hỏi bạn đang có | Loại dữ liệu trả lời được | Loại trông giống mà không trả lời được |
|---|---|---|
| Có bao nhiêu người gặp chuyện này, và chuyện nào nhiều hơn chuyện nào | hồ sơ đếm được: phiếu bảo hành, lý do đổi trả, số cuộc gọi phân theo loại | vài câu chuyện kể lại, dù câu nào cũng rõ |
| Vì sao người ta làm như thế | lời kể ghi nguyên văn, quan sát tại chỗ, biên bản khiếu nại | bảng số, vì nó cho thấy có chuyện mà không cho biết hoàn cảnh |
| Sản phẩm mới có được người mua đón nhận không | hàng bán tới tay người dùng, lượng tồn ở kênh, số đại lý tự đặt thêm | hàng đẩy vào kênh phân phối, vì nó dừng ở nửa đường |
| Thiết kế đã đạt mức đặt ra chưa | các phép đo và phép thử chính nhóm làm trên bản mẫu, kèm chỗ mẫu hỏng | phản hồi của người dùng về bản đang bán, vì đó là bản khác |
| Người ta có mua thứ chưa ai từng bán không | dữ liệu mới tạo ra bằng bản mẫu đưa cho người dùng thử | mọi dữ liệu bán hàng quá khứ, vì nó chỉ ghi thứ đã được bày bán |
Chụp lại bảng này. Cột thứ ba là cột đáng đọc kỹ, vì những thứ nằm trong đó đều là dữ liệu thật, đáng tin, và đang trả lời một câu hỏi khác câu hỏi của bạn.
Đi tìm dữ liệu trước khi viết câu hỏi ra giấy. Nhóm mở các bảng số sẵn có, xem một lượt, rồi tìm xem có gì đáng nói. Người ta làm vậy vì mở một bảng số thì dễ, còn viết một câu hỏi cho đủ ba phần thì phải nghĩ, và vì bắt đầu bằng dữ liệu cho cảm giác đang làm việc ngay. Hậu quả rơi vào người ra quyết định: họ nhận được một bản trình bày đẹp về những thứ dễ đo, trong khi câu hỏi đang chặn quyết định thì vẫn chưa ai chạm tới. Cách tránh là viết câu hỏi ra trước, rồi mới mở dữ liệu, và nếu giữa chừng câu hỏi đổi thì ghi lại là nó đã đổi.
Lấy dữ liệu dễ lấy thay cho dữ liệu đúng. Câu hỏi cần biết người dùng ở các tỉnh xa gặp chuyện gì, nhưng nhóm chỉ có dữ liệu của hai thành phố lớn, nên dùng tạm và quên mất chữ tạm. Người ta làm vậy vì dữ liệu kia đòi thời gian và tiền, còn dữ liệu này đang nằm sẵn trong máy. Hậu quả rơi vào nhóm người dùng không có mặt trong dữ liệu: sản phẩm được thiết kế như thể họ không tồn tại. Cách tránh là ghi thẳng vào báo cáo một dòng nói rõ dữ liệu này nói về ai và bỏ sót ai, đặt ngay cạnh kết luận chứ không giấu ở phần phụ lục.
Hỏi dữ liệu cũ một câu về thứ chưa từng tồn tại. Nhóm muốn biết nên làm hay không nên làm một sản phẩm mới, nên đi phân tích thật kỹ số liệu bán hàng mấy năm qua. Người ta làm vậy vì phân tích dữ liệu sẵn có thì an toàn, còn làm một bản mẫu rồi đưa cho người lạ dùng thì phải chịu nghe chê. Hậu quả là nhóm dành nhiều tháng để xác nhận lại thứ thị trường đã có, rồi làm ra một sản phẩm giống những thứ đang bán. Cách tránh là nhận ra sớm rằng câu hỏi này thuộc loại phải tạo dữ liệu mới, và bỏ một phần nhỏ công sức đó vào việc làm một bản mẫu thô.
Ví dụ dưới đây lấy từ một bài báo khoa học công khai, bạn tra lại được.
Năm 2015, hai tác giả làm việc tại Netflix công bố trên một tạp chí khoa học bài viết về hệ thống gợi ý phim của hãng. Bài viết kể rằng trước đây bài toán gợi ý được coi như bài toán đoán xem một người sẽ chấm một phim mấy sao. Hãng dựa nhiều vào cách ấy thời việc chính của họ là gửi đĩa qua bưu điện, một phần vì khi đó điểm sao là phản hồi chính cho biết người ta đã xem phim.
Khi chuyển sang chiếu trực tuyến, hãng có một loại dữ liệu khác: mỗi người xem gì, xem vào lúc nào, xem trên thiết bị gì, tìm thấy phim ở chỗ nào trong sản phẩm, và cả những gợi ý đã hiện ra mà không được bấm vào. Hai tác giả viết rằng chính những dữ liệu đó dạy họ rằng có những cách giúp người xem tìm được phim hợp ý tốt hơn hẳn so với chỉ nhìn vào điểm sao dự đoán.
Điều rút ra: câu hỏi đổi thì loại dữ liệu trả lời được nó cũng đổi. Điểm sao không sai, nó chỉ đang trả lời một câu hỏi khác.
Của MES LAB
Chương 22 «Ra mắt và đưa tới tay», trong sách «Phát triển sản phẩm hướng thị trường» của TS. Trần Anh Tuấn — hai con số trên đường đi của hàng, vì sao con số dễ đo hay bị đọc nhầm thành con số quan trọng, và dấu hiệu nhận ra hàng đang chất kho.
Chương 5 mục 5.9 «Tam giác hoá dữ liệu», trong giáo trình «Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, phiên bản 2026» của TS. Trần Anh Tuấn — bảng điểm mạnh và điểm mù của từng cách thu dữ liệu, và cách ghép các cách có điểm mù khác nhau.
Bên ngoài
Carlos A. Gomez-Uribe và Neil Hunt, «The Netflix Recommender System: Algorithms, Business Value, and Innovation», tạp chí ACM Transactions on Management Information Systems, tháng 12 năm 2015 — nguồn của phần ví dụ; đọc phần mở đầu để thấy một câu hỏi sản phẩm đổi thì loại dữ liệu cần dùng cũng đổi theo.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.