m.school › Chiến lược sản phẩm là gì, khác kế hoạch ở đâu › bài 1

Bài 1 · Chiến lược sản phẩm là một tập lựa chọn, và phần khó nhất là chọn không làm gì

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 132 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ đọc một câu trong văn bản của công ty và nói được câu đó là mục tiêu, tầm nhìn hay chiến lược. Thử một câu chiến lược bằng phép thử «câu này loại bỏ được việc gì». Gọi tên năm phần của một chiến lược sản phẩm, đúng thứ tự cả lớp dùng.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Trong trang trình bày đầu năm có câu: doanh số dòng nồi này tăng gấp đôi sau ba năm. Theo bài, câu này là gì?

  2. Câu 2. Câu nào dưới đây qua được phép thử «câu này loại bỏ được việc gì mà công ty đang muốn làm»?

  3. Câu 3. Thứ tự năm phần của một chiến lược sản phẩm mà cả lớp dùng là thứ tự nào?

  4. Câu 4. Một văn bản có tiêu đề «chiến lược sản phẩm năm tới», nội dung là bảng doanh số theo tháng và theo vùng. Theo bài, nên làm gì với văn bản này?

  5. Câu 5. Một công ty thấy đối thủ đang bán chạy nhờ một tính năng và một mức giá, liền định chép cả hai. Theo bài, trước khi học một cách làm, nên làm gì?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Tìm một văn bản thật của công ty bạn có nói về hướng đi của một dòng sản phẩm: bản kế hoạch năm, biên bản họp đầu năm, hay một trang trình bày của lãnh đạo. Chép ra năm câu quan trọng nhất. Với mỗi câu, ghi nó là mục tiêu, tầm nhìn, chiến lược hay kế hoạch. Với mỗi câu bạn xếp là chiến lược, viết thêm một dòng: câu này loại bỏ được việc gì mà công ty đang muốn làm.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: bạn xếp được cả năm câu, và mỗi câu chiến lược có một việc bị loại bỏ cụ thể, gọi được tên. Dấu hiệu còn sai: câu bạn xếp là chiến lược nhưng dòng «loại bỏ được gì» để trống hoặc chỉ ghi chung chung. Khi đó câu ấy thật ra là mục tiêu hoặc tầm nhìn. Cũng là dấu hiệu đáng ghi lại nếu trong năm câu không có câu nào là chiến lược.

Lời giải mẫu. Văn bản: trang trình bày đầu năm cho dòng dụng cụ nhà bếp bằng thép không gỉ. Câu một, doanh số dòng này tăng ba mươi phần trăm: mục tiêu. Câu hai, trở thành thương hiệu đồ bếp được tin dùng: tầm nhìn. Câu ba, ra mười mã mới trong năm: kế hoạch, vì chỉ có số lượng, không có lựa chọn. Câu bốn, phục vụ mọi phân khúc từ bình dân tới cao cấp: viết như chiến lược nhưng không loại bỏ được gì. Câu năm, không làm thêm hàng giá rẻ dưới mức hiện có, dồn sức vào độ bền của lớp đáy nồi: chiến lược, loại bỏ được việc mở dòng giá rẻ mà phòng kinh doanh đang đề nghị. Kết luận: trong năm câu chỉ có một câu là chiến lược thật.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Chữ chiến lược được dùng rất nhiều trong công ty, và thường mỗi người hiểu một kiểu. Lớp này bắt đầu bằng việc đặt một định nghĩa đủ hẹp để dùng được. Bài đầu chỉ làm ba việc: nói chiến lược sản phẩm là gì, tách nó khỏi hai chữ hay bị lẫn là mục tiêu và tầm nhìn, rồi nêu tên năm phần của nó. So chiến lược với kế hoạch là việc của bài 2.

1

Chiến lược là chọn giữa những việc đều có vẻ đáng làm

Một công ty làm sản phẩm luôn có nhiều việc có vẻ đáng làm hơn số việc nó làm nổi. Có thêm một phân khúc khách mới. Có thêm một tính năng đối thủ vừa ra. Có thêm một mức giá thấp hơn để giữ thị phần. Có thêm một công nghệ đang được báo chí nói nhiều. Mỗi việc riêng lẻ đều có lý do. Gộp lại thì vượt quá người, tiền và thời gian của công ty.

Chiến lược sản phẩm (product strategy) là câu trả lời cho tình thế đó. Trong lớp này, chiến lược sản phẩm là một tập lựa chọn có chủ đích cho một dòng sản phẩm trong vài năm: bán cho ai, hơn người khác ở điểm gì, làm những loại sản phẩm nào, dựa vào công nghệ và nguồn lực nào, và cố ý không làm những gì.

Vế cuối là vế người ta hay bỏ qua, mà lại là vế cho thấy chiến lược có thật hay không. Michael Porter, giáo sư ở trường kinh doanh Harvard, viết trong bài báo «What Is Strategy?» năm 1996 rằng phần cốt lõi của chiến lược là chọn những gì không làm. Lý do rất thực tế. Nếu một văn bản chiến lược không loại bỏ việc gì cả, thì mọi đề xuất trong công ty đều tìm được một câu trong văn bản đó để dựa vào. Khi ấy văn bản không giúp ai quyết định gì.

Từ đây có một phép thử dùng được ngay. Đọc một câu chiến lược, rồi hỏi: câu này loại bỏ được việc gì mà công ty đang muốn làm? Câu «chúng tôi làm sản phẩm chất lượng cao, giá cạnh tranh, phục vụ mọi khách hàng» không loại bỏ được gì. Câu «dòng sản phẩm này chỉ làm cho bếp gia đình ở thành phố, không làm cho bếp nhà hàng, kể cả khi có đơn đặt» loại bỏ được một việc cụ thể. Câu thứ hai có thể sai, nhưng ít nhất nó là một lựa chọn, và một lựa chọn thì kiểm lại được.

Cũng cần nói rõ chiến lược không phải là ý tưởng hay. Một ý tưởng sản phẩm trả lời câu làm cái gì. Chiến lược trả lời câu vì sao làm cái này mà không làm cái kia, trong khi cả hai đều có vẻ đáng làm.

2

Mục tiêu, tầm nhìn và chiến lược là ba thứ khác nhau

Ba chữ này hay đứng cạnh nhau trong cùng một trang tài liệu, nên rất dễ lẫn. Lớp này chốt nghĩa của từng chữ như sau.

Mục tiêu (goal) là kết quả muốn đạt, đo được. Ví dụ: doanh số dòng sản phẩm này tăng gấp đôi sau ba năm. Mục tiêu nói muốn tới đâu. Nó không nói đi đường nào.

Tầm nhìn (vision) là hình ảnh xa về chỗ công ty muốn đứng, thường không gắn số. Ví dụ: trở thành cái tên đầu tiên người ta nghĩ tới khi mua đồ bếp. Tầm nhìn cho mọi người cùng một hướng nhìn. Nó cũng không nói đi đường nào.

Chiến lược là con đường đã chọn để đi từ chỗ đang đứng tới mục tiêu, trong số nhiều con đường có thể đi. Cùng một mục tiêu tăng gấp đôi doanh số có thể đạt bằng nhiều đường rất khác nhau: bán thêm cho đúng nhóm khách cũ, mở sang nhóm khách mới, hạ giá để lấy thêm thị phần, hay làm một dòng cao cấp có lãi trên mỗi chiếc cao hơn. Mỗi đường kéo theo một kiểu sản phẩm, một kiểu đội và một kiểu tiêu tiền khác nhau. Chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia, mới là chiến lược.

Có một cách nhận ra rất nhanh. Câu nào có thể đặt trước chữ «bằng cách» thì câu đó thường là mục tiêu. Câu nào đứng sau chữ «bằng cách» thì câu đó mới bắt đầu là chiến lược. Tăng gấp đôi doanh số, bằng cách chỉ tập trung vào bếp gia đình ở thành phố và hơn đối thủ ở độ bền, chứ không đua giá.

Một mục tiêu có nhiều đường đi tới. Chiến lược là chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia.Trên cùng là mục tiêu: doanh số dòng sản phẩm này tăng gấp đôi sau ba năm. Mục tiêu nói muốn tới đâu, không nói đi đường nào. Sau chữ bằng cách là bốn đường: bán thêm cho đúng nhóm khách cũ, mở sang nhóm khách mới, hạ giá để lấy thêm thị phần, làm một dòng cao cấp có lãi trên mỗi chiếc cao hơn. Bốn đường đứng ngang hàng, hình không chỉ đường nào. Mỗi đường kéo theo một kiểu sản phẩm, một kiểu đội và một kiểu tiêu tiền khác nhau. Dưới cùng là chiến lược: chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia. Câu đặt được trước chữ bằng cách thường là mục tiêu, câu đứng sau mới bắt đầu là chiến lược. MỤC TIÊU Doanh số dòng sản phẩm này tăng gấp đôi sau ba năm. Nói muốn tới đâu. Không nói đi đường nào. bằng cách… Bán thêm cho đúng nhóm khách cũ Mở sang nhóm khách mới Hạ giá để lấy thêm thị phần Làm một dòng cao cấp có lãi trên mỗi chiếc cao hơn Mỗi đường kéo theo một kiểu sản phẩm, một kiểu đội và một kiểu tiêu tiềnkhác nhau. CHIẾN LƯỢC Chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia. Câu đặt được trước chữ «bằng cách» thường là mục tiêu. Câu đứng sauchữ «bằng cách» mới bắt đầu là chiến lược. Một mục tiêu có nhiều đường đi tới. Chiến lược là chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia.Trên cùng là mục tiêu: doanh số dòng sản phẩm này tăng gấp đôi sau ba năm. Mục tiêu nói muốn tới đâu, không nói đi đường nào. Sau chữ bằng cách là bốn đường: bán thêm cho đúng nhóm khách cũ, mở sang nhóm khách mới, hạ giá để lấy thêm thị phần, làm một dòng cao cấp có lãi trên mỗi chiếc cao hơn. Bốn đường đứng ngang hàng, hình không chỉ đường nào. Mỗi đường kéo theo một kiểu sản phẩm, một kiểu đội và một kiểu tiêu tiền khác nhau. Dưới cùng là chiến lược: chọn một đường, và nói rõ không đi những đường kia. Câu đặt được trước chữ bằng cách thường là mục tiêu, câu đứng sau mới bắt đầu là chiến lược. MỤC TIÊU Doanh số dòng sản phẩmnày tăng gấp đôi sau banăm. Nói muốn tới đâu. Không nói điđường nào. bằng cách… Bán thêm cho đúng nhóm khách cũ Mở sang nhóm khách mới Hạ giá để lấy thêm thị phần Làm một dòng cao cấp có lãitrên mỗi chiếc cao hơn Mỗi đường kéo theo một kiểu sảnphẩm, một kiểu đội và một kiểu tiêutiền khác nhau. CHIẾN LƯỢC Chọn một đường, và nói rõkhông đi những đường kia. Câu đặt được trước chữ «bằngcách» thường là mục tiêu. Câuđứng sau chữ «bằng cách» mớibắt đầu là chiến lược.
Hình 1. Cùng một mục tiêu có nhiều đường đi tới, và chiến lược là chọn một đường rồi nói rõ không đi những đường kia.

Sách của chúng tôi (RDI Toolkit 2019, chương 5) gộp tầm nhìn và mục tiêu vào làm một phần của chiến lược. Cách gộp đó không sai, vì một chiến lược luôn phải nói nó nhắm tới đâu. Nhưng khi đọc tài liệu của công ty, bạn nên tách ba thứ ra. Văn bản nào chỉ có mục tiêu và tầm nhìn, không có phần đường đi, thì văn bản đó chưa có chiến lược, dù tiêu đề của nó ghi là chiến lược.

3

Chiến lược có ba tầng, và lớp này nói tầng của một dòng sản phẩm

Chữ chiến lược còn bị lẫn vì nó được dùng ở nhiều tầng khác nhau trong cùng một công ty.

Tầng thứ nhất là chiến lược của công ty. Tầng này trả lời câu: công ty làm ngành nào, đứng ở khúc nào trong chuỗi từ nguyên liệu tới tay người dùng. Ví dụ: tiếp tục làm hàng gia công cho chủ nhãn khác, hay bắt đầu làm hàng mang nhãn của chính mình. Người quyết tầng này là người đứng đầu công ty và chủ sở hữu.

Tầng thứ hai là chiến lược của một dòng sản phẩm. Tầng này trả lời câu: trong ngành đã chọn, dòng sản phẩm này bán cho ai, hơn người khác ở đâu, làm những sản phẩm nào trong vài năm tới. Đây là tầng của lớp này, và từ đây trở đi, chữ chiến lược trong lớp luôn có nghĩa là chiến lược ở tầng này.

Tầng thứ ba là kế hoạch của một dự án. Tầng này trả lời câu: dự án làm một sản phẩm cụ thể sẽ chia việc ra sao, ai làm, bao giờ xong, tốn bao nhiêu. Tầng này không còn là chiến lược. Bài 2 sẽ nói kỹ vì sao.

Ba tầng phải ăn khớp với nhau từ trên xuống. Một công ty quyết ở tầng thứ nhất là chỉ làm hàng gia công thì ở tầng thứ hai không có gì nhiều để chọn về chuyện bán cho ai, vì bên đặt hàng đã chọn thay. Ngược lại, khi công ty bắt đầu làm hàng mang nhãn riêng, tầng thứ hai bỗng có rất nhiều câu hỏi mà trước đây không ai phải trả lời.

Theo sách của chúng tôi, viết chiến lược sản phẩm là phần việc của lãnh đạo, có nhóm phát triển sản phẩm giúp sức. Người làm kỹ thuật thường không viết chiến lược. Nhưng họ là người thi hành nó hằng ngày, và là người đầu tiên thấy khi nó không đứng được. Vì vậy lớp này dạy cho cả người không viết chiến lược: để đọc được nó, và hỏi lại đúng chỗ.

4

Một chiến lược sản phẩm gồm năm phần

Gom từ sách của chúng tôi (RDI Toolkit 2019, trang 166 và 171), một chiến lược sản phẩm có năm phần. Cả lớp gọi đúng năm tên này, theo đúng thứ tự này.

Phần một là đích nhắm. Dòng sản phẩm này muốn tới đâu trong vài năm, đo bằng gì.

Phần hai là bán cho ai. Dòng sản phẩm này chọn phân khúc nào, và không theo phân khúc nào. Phân khúc (market segment) là một nhóm người mua có nhu cầu và cách chọn hàng giống nhau đủ để một sản phẩm phục vụ được cả nhóm.

Phần ba là hơn người khác ở điểm gì. Người mua chọn sản phẩm này thay vì sản phẩm khác vì lý do nào: giá, công nghệ, trải nghiệm khi dùng, hay kiểu dáng.

Phần bốn là làm những loại sản phẩm nào. Trong vài năm tới, dòng này có sản phẩm mới hoàn toàn không, có dựng một sản phẩm làm nền cho cả một họ không, hay chủ yếu làm các bản mở rộng và cải tiến từ cái đang có.

Phần năm là dựa vào đâu. Dòng sản phẩm này chọn theo công nghệ nào, dựa vào nguồn lực nào, việc gì tự làm và việc gì đi thuê.

Năm phần không đứng riêng. Chúng phải ăn khớp với nhau. Chọn hơn người khác bằng công nghệ mà nguồn lực không có ai làm nghiên cứu là hai phần kéo ngược nhau. Bài 3 dạy kỹ ba phần đầu. Bài 4 dạy kỹ hai phần sau. Bài 5 dạy cách soi xem năm phần có ăn khớp không.

Chỗ này có một điều cần nói thẳng: chia năm phần như trên là cách chia của chúng tôi, rút từ sách của mình. Tài liệu quốc tế có nhiều cách chia khác, ba phần, bốn phần hay sáu phần. Điểm chung của mọi cách chia là đều đòi một câu trả lời cho câu bán cho ai và câu hơn ở điểm gì.

Bảng tổng hợp bốn chữ hay bị lẫn

Mục tiêuTầm nhìnChiến lược sản phẩmKế hoạch
Trả lời câumuốn tới đâumuốn đứng ở đâu, rất xađi đường nào, và không đi đường nàoai làm việc gì, bao giờ xong
Có gắn số khôngcóthường khôngcó thể có, nhưng cốt lõi là lựa chọncó, rất nhiều
Ví dụ một câudoanh số gấp đôi sau ba nămcái tên đầu tiên người ta nghĩ tới khi mua đồ bếpchỉ làm cho bếp gia đình ở thành phố, hơn ở độ bền, không đua giámẫu đầu xong cuối quý hai, do một nhóm bốn người làm
Phép thửđặt được trước chữ «bằng cách»đọc lên không biết sáng mai làm gìloại bỏ được một việc công ty đang muốn làmcó tên người, có ngày

Năm phần của chiến lược sản phẩm, theo thứ tự cả lớp dùng: đích nhắm · bán cho ai · hơn người khác ở điểm gì · làm những loại sản phẩm nào · dựa vào đâu.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Gọi một con số doanh số là chiến lược. Văn bản có tiêu đề chiến lược sản phẩm năm tới, và nội dung là một bảng doanh số theo tháng, theo vùng. Người ta sai vì con số là thứ dễ viết nhất, dễ duyệt nhất, và nhìn có vẻ chắc chắn. Hậu quả rơi vào nhóm làm sản phẩm: họ biết phải đạt bao nhiêu, nhưng không biết nên làm sản phẩm gì, cho ai, nên mỗi dự án tự chọn một hướng. Cách tránh là luôn hỏi tiếp câu «bằng cách nào», và chỉ gọi là chiến lược khi câu trả lời có lựa chọn.

Làm cho mọi người, ở mọi mức giá. Chiến lược ghi dòng sản phẩm phục vụ cả người mua bình dân lẫn người mua cao cấp, cả gia đình lẫn nhà hàng. Người ta sai vì bỏ một nhóm khách nghe như bỏ tiền, và không ai muốn đứng tên quyết định bỏ. Hậu quả rơi vào sản phẩm: nó phải gánh những đòi hỏi kéo ngược nhau, nên không làm hài lòng hẳn nhóm nào. Cách tránh là viết thêm một dòng «không theo», ghi rõ phân khúc nào bị bỏ, và ai đã đồng ý bỏ.

Chép chiến lược của hãng đang thắng. Một hãng đang bán chạy nhờ một cách làm, và công ty khác chép lại cách làm đó, cả tính năng lẫn mức giá. Sách của chúng tôi (RDI Toolkit 2019, trang 162) nói thẳng rằng mỗi công ty có tập khách, nguồn lực và cách nghĩ khác nhau, nên chiến lược không thể giống nhau, và thấy đối thủ có tính năng gì liền học theo thì nhiều khi không phải chiến lược tốt. Người ta sai vì nhìn thấy kết quả của đối thủ mà không thấy những điều kiện đằng sau kết quả đó. Hậu quả rơi vào công ty đi chép: họ có cùng sản phẩm nhưng không có cùng chỗ đứng, và thường thua chính hãng họ chép. Cách tránh là trước khi học một cách làm, ghi ra những điều kiện đối thủ đang có mà mình không có.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây lấy từ bài trình bày công khai của chính hãng Nintendo ngày 7 tháng 12 năm 2006, đăng trên trang của hãng, nên bạn tra lại được.

Theo bài trình bày ấy, năm 2003 Nintendo đặt chiến lược cơ bản là mở rộng số người chơi trò chơi điện tử. Hãng nhắm tới những sản phẩm ai cũng chơi được, bất kể tuổi, giới hay đã từng chơi trò chơi điện tử hay chưa. Trong nội bộ, hãng dùng câu «cho người từ 5 tới 95 tuổi».

Phần đáng đọc nhất là phần hãng chọn không làm. Cả ngành lúc đó đua nhau làm trò chơi đồ hoạ đẹp hơn, phức tạp hơn. Nintendo kết luận rằng đồ hoạ đẹp hơn không còn kéo thêm được người mới, nên không lấy đó làm hướng chính. Máy cầm tay DS là bước đầu, máy Wii ra cuối năm 2006 là bước tiếp theo của cùng chiến lược.

Nhìn theo bài này: mục tiêu là có thêm người chơi. Chiến lược là đường đi tới đó, và nó loại bỏ được một việc cả ngành đang làm.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

RDI Toolkit 2019, chương 5 «Chiến lược và kế hoạch phát triển sản phẩm», TS. Trần Anh Tuấn và MES LAB — chương sách lớp này dựa vào nhiều nhất, có mục chiến lược gồm những gì ở trang 166.

Bài 2 của lớp này, nói chiến lược khác kế hoạch ở bốn điểm nào — đọc tiếp ngay sau bài này.

Bên ngoài

«What Is Strategy?», Michael E. Porter, đăng trên tạp chí Harvard Business Review năm 1996 — bài báo được trích rất rộng về ý chiến lược là chọn, kể cả chọn không làm gì.

«Good Strategy Bad Strategy», Richard Rumelt, 2011 — sách giải thích vì sao một bản chỉ có mục tiêu và khẩu hiệu thì chưa phải chiến lược, có nhiều ví dụ về chiến lược viết sai.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook