m.school › Chiến lược sản phẩm là gì, khác kế hoạch ở đâu › bài 4
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một xưởng đã làm chiếc quạt hơi nước đầu tiên. Mẫu thứ hai là cỡ nhỏ cho phòng ngủ, dùng lại khung và bình nước của mẫu đầu. Mẫu thứ hai thuộc loại nào?
Phái sinh mở rộng một dải đang có, thêm một mẫu cho một phân khúc riêng, dùng lại nền tảng và chỉ đổi một phần. Xem mục 1 và mục 2.
Câu 2. Xưởng quạt hơi nước ấy muốn làm thêm máy điều hoà chạy bằng máy nén. Theo bài, đây là gì?
Bài nói rõ máy điều hoà chạy máy nén là một nền tảng thứ hai, không phải phái sinh của quạt hơi nước. Mới hoàn toàn là loại đáp ứng một nhu cầu chưa sản phẩm nào đáp ứng, còn nhu cầu làm mát thì đã có. Xem mục 2.
Câu 3. Mỗi đời sản phẩm mới chỉ hơn đời trước một chút dù đã bỏ nhiều tiền, và nhà cung cấp lớn báo sắp ngừng một dòng linh kiện. Công nghệ chính của dòng này đang ở đâu, và hợp với gì?
Hai dấu hiệu ấy đều là dấu hiệu đoạn cuối của đường chữ S. Công nghệ đoạn cuối đã chín, rẻ, hợp dự án ngắn, nhưng đặt chiến lược năm năm lên đó thì giữa chừng nó lỗi thời. Xem mục 3.
Câu 4. Một dòng sản phẩm chọn hơn người khác bằng trải nghiệm khi dùng. Theo luật chọn của bài, việc nào không nên thuê ngoài hết?
Việc gắn trực tiếp với cách hơn người khác thì nên tự làm, hoặc tự hiểu đủ sâu để kiểm bên làm thuê. Hơn bằng trải nghiệm thì việc đi quan sát người dùng không nên thuê hết. Xem mục 4.
Câu 5. Năm nào dòng sản phẩm cũng ra mẫu mới và có lãi, nhưng mọi mẫu đều đứng trên một khung đã dùng rất lâu. Theo bài, cách tránh rủi ro là gì?
Mỗi bản phái sinh đều có lý do để làm, nên nền tảng mới bị hoãn năm này qua năm khác, và khi đối thủ đổi nền tảng thì chỉ còn cách hạ giá. Cách tránh là ghi thẳng một tỷ lệ nhỏ nguồn lực cho nền tảng kế tiếp, không rút sang khi có đơn gấp. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Chọn một dòng sản phẩm của công ty bạn. Liệt kê các sản phẩm dòng đó đã ra trong ba năm qua và xếp mỗi sản phẩm vào một trong bốn loại. Ghi tên nền tảng mà các sản phẩm đang dựa vào, và năm nền tảng đó ra đời. Với công nghệ chính của dòng, ghi nó đang ở đoạn nào của đường chữ S và một dấu hiệu khiến bạn nghĩ vậy. Cuối cùng, ghi một việc đang đi thuê mà gắn với cách hơn người khác của dòng sản phẩm.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: bạn xếp được mọi sản phẩm, gọi được tên nền tảng, và có một dấu hiệu cụ thể cho đoạn của đường chữ S, chứ không chỉ cảm giác. Dấu hiệu còn sai: bạn xếp mọi sản phẩm vào loại mới hoàn toàn, trong khi chúng dùng chung khung và linh kiện. Hoặc bạn không tìm ra năm ra đời của nền tảng. Nếu ba năm qua toàn là phái sinh và cải tiến, đó không phải lỗi của bài tập; đó là điều đáng mang đi hỏi người viết chiến lược.
Lời giải mẫu. Dòng sản phẩm: ấm siêu tốc. Ba năm qua ra năm mẫu: hai mẫu đổi dung tích, là phái sinh; hai mẫu đổi màu và thêm đèn báo, là cải tiến; một mẫu có chỉnh nhiệt độ, cũng là phái sinh vì vẫn dùng chung thân và đế. Nền tảng: bộ đế và mâm nhiệt dùng từ sáu năm trước. Công nghệ chính là mâm nhiệt đáy kín, đang ở đoạn cuối, vì hai đời gần nhất chỉ nhanh hơn vài giây và nhà cung cấp mâm nhiệt đã giảm số mã. Việc đang thuê mà gắn với cách hơn người khác: dòng này chọn hơn bằng độ an toàn khi dùng, nhưng phần thử ngắt điện khi cạn nước đang thuê ngoài hoàn toàn, trong công ty không ai đọc được kết quả thử.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 3 đã dạy ba phần nói dòng sản phẩm nhắm tới đâu, phục vụ ai và thắng ở chỗ nào. Bài này dạy hai phần còn lại. Phần thứ tư nói dòng sản phẩm sẽ ra những loại sản phẩm nào trong vài năm. Phần thứ năm nói nó dựa vào công nghệ nào, nguồn lực nào, và việc gì tự làm, việc gì đi thuê. Hai phần này là chỗ chiến lược chạm vào phòng kỹ thuật nhiều nhất.
Cách chia sản phẩm thành bốn loại được hai giáo sư Steven Wheelwright và Kim Clark đưa ra trong sách «Revolutionizing Product Development» năm 1992. Sách RDI Toolkit 2019 của chúng tôi (trang 172) và sách Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020 (trang 74 tới 77) dùng lại cách chia đó.
Sản phẩm mới hoàn toàn (breakthrough product) là sản phẩm dựa trên công nghệ mới, đáp ứng một nhu cầu mà trước đó chưa có sản phẩm nào đáp ứng, có khi người mua cũng chưa nhận ra mình cần. Loại này đòi đầu tư lớn, nghiên cứu sâu, và rủi ro cao. Sách ghi ở Việt Nam chưa có nhiều sản phẩm nổi bật thuộc loại này.
Sản phẩm nền tảng (platform product) là sản phẩm đầu tiên của một dòng mới, đánh vào thị trường đã có, và được dựng sao cho từ nó mọc ra được cả một họ sản phẩm về sau. Họ sản phẩm (product family) là nhóm sản phẩm dùng chung phần lớn cấu trúc, linh kiện và cách sản xuất của một nền tảng.
Sản phẩm phái sinh (derivative product) là sản phẩm mở rộng một dải đang có, thêm một mẫu mới cho một phân khúc riêng. Nó dùng lại nền tảng, chỉ đổi một phần, nên tốn ít tiền hơn hẳn.
Sản phẩm cải tiến (improvement) là bản sửa tính năng, sửa lỗi của một sản phẩm đang bán, để nó tốt hơn và cạnh tranh hơn.
Xếp theo mức rủi ro và mức tiền thì thứ tự là: mới hoàn toàn cao nhất, rồi nền tảng, rồi phái sinh, thấp nhất là cải tiến. Xếp theo thời gian sống thì gần như ngược lại: một nền tảng tốt sống nhiều năm, một bản cải tiến có khi chỉ sống một mùa.
Ở mức chiến lược, câu hỏi không phải là một dự án thuộc loại nào. Câu hỏi là trong vài năm tới, dòng sản phẩm sẽ chia sức cho bốn loại theo tỷ lệ nào. Một dòng sản phẩm chỉ làm cải tiến thì chi phí thấp, kết quả đều, nhưng đang tiêu dần những gì nền tảng cũ để lại. Một dòng dồn hết vào sản phẩm mới hoàn toàn thì rủi ro dồn vào một chỗ. Tỷ lệ chia ấy phải khớp với ba phần đầu. Chọn hơn người khác bằng giá thì nghiêng về phái sinh và cải tiến, vì dùng lại được nhiều. Chọn hơn bằng công nghệ thì phải có chỗ cho nền tảng mới.
Còn nếu bạn cần xếp loại một dự án cụ thể để chọn quy trình cho nó, hãy đọc bài 4 của lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03.
Sách RDI Toolkit 2019 (trang 172) gọi sản phẩm nền tảng là loại có thể coi là quan trọng nhất, và là loại mà phần nghiên cứu đóng vai lớn nhất. Lý do nằm ở chỗ quyết định nền tảng không chỉ quyết một sản phẩm. Nó quyết cả những sản phẩm sẽ ra sau đó.
Khi chọn kiến trúc cho một nền tảng, nhóm kỹ thuật chọn luôn những thứ các sản phẩm sau sẽ phải dùng chung: kích thước khung, loại động cơ, cách bố trí mạch điện, bộ khuôn chính. Chọn đúng thì mỗi bản phái sinh sau chỉ cần đổi một phần nhỏ, ra nhanh, tốn ít. Chọn sai thì mỗi bản sau đều phải sửa vòng quanh cái sai ban đầu, và chi phí cộng dồn qua nhiều năm.
Lấy một bối cảnh Việt Nam để thấy rõ, không lấy từ một công ty cụ thể. Một xưởng đã làm quạt điện dân dụng nhiều năm, rồi làm thêm một dòng quạt làm mát bằng hơi nước. Chiếc quạt hơi nước đầu tiên là một sản phẩm nền tảng: nó đánh vào thị trường làm mát đã có, nhưng với xưởng thì đó là một bộ khung, một bình nước, một tấm làm mát và một cách đưa gió hoàn toàn mới. Những bản sau, như một cỡ nhỏ cho phòng ngủ, là phái sinh. Bản thế hệ mới có điều khiển từ xa là cải tiến. Cách chia này đúng như ví dụ sách RDI Toolkit 2019 dùng ở trang 172. Nếu xưởng ấy muốn làm thêm máy điều hoà chạy bằng máy nén, đó là một nền tảng thứ hai, chứ không phải một bản phái sinh của quạt hơi nước.
Từ bối cảnh này rút ra một câu hỏi để soi chiến lược: dòng sản phẩm của bạn đang dựa trên nền tảng nào, nền tảng đó đã bao nhiêu năm, và trong vài năm tới có kế hoạch dựng nền tảng kế tiếp không. Nếu câu trả lời là chưa ai nghĩ tới, dòng sản phẩm đang sống nhờ những gì đã làm từ trước.
Bài này chỉ nói tới một nền tảng và họ sản phẩm của nó. Khi công ty có nhiều nền tảng cùng lúc, việc giữ chúng cân với nhau sẽ có một lớp riêng: lớp Dải sản phẩm và vòng đời — lúc nào nên dừng một sản phẩm, mã CL-04.
Phần thứ năm của chiến lược bắt đầu bằng câu hỏi dòng sản phẩm dựa vào công nghệ nào. Sách RDI Toolkit 2019 (trang 174) và sách Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020 (trang 80) dùng một hình để trả lời: quỹ đạo công nghệ (technology S-curve).
Quỹ đạo công nghệ là đường mô tả một công nghệ phát triển và được dùng rộng ra theo thời gian. Đường này có hình chữ S, với ba đoạn. Đoạn đầu là hình thành: công nghệ còn mới, chậm tiến bộ, ít người dùng. Đoạn giữa là tăng trưởng: công nghệ tiến nhanh và lan rộng. Đoạn cuối là thoái trào: tiến bộ chậm lại, rồi công nghệ bị một công nghệ khác thay dần. Ý tưởng dùng đường chữ S để bàn chiến lược công nghệ được Richard Foster trình bày kỹ trong sách «Innovation: The Attacker's Advantage» năm 1986.
Sách của chúng tôi đưa ra một luật chọn đơn giản, gắn với độ dài của chiến lược. Công nghệ đang ở đoạn đầu hợp với chiến lược dài hạn, vì nó cần thời gian để kịp lớn; đặt nó vào một dự án ngắn hạn thì dự án xong trước khi công nghệ đủ chín. Công nghệ đang ở đoạn cuối hợp với dự án ngắn hạn, vì nó đã chín, rẻ và dễ làm; nhưng đặt một chiến lược năm năm lên nó thì giữa chừng nó đã lỗi thời.
Muốn biết công nghệ đang ở đoạn nào, sách khuyên đối chiếu với báo cáo công nghệ của các tổ chức chuyên nghiên cứu. Người làm kỹ thuật cũng có vài dấu hiệu tự nhìn được. Mỗi đời sản phẩm mới chỉ hơn đời trước một chút dù đã bỏ nhiều tiền: dấu hiệu đoạn cuối. Nhà cung cấp linh kiện lớn bắt đầu ngừng một dòng linh kiện: dấu hiệu đoạn cuối. Cơ quan quản lý bắt đầu đặt hạn cho công nghệ đó: cũng là dấu hiệu đoạn cuối, và là dấu hiệu có lịch rõ nhất.
Phần thứ năm còn hai câu hỏi nữa: dòng sản phẩm dựa vào nguồn lực nào, và việc gì tự làm, việc gì đi thuê.
Về nguồn lực, sách RDI Toolkit 2019 (trang 176) đặt một điều kiện mà bài 2 đã dẫn khi nói về cân đối nguồn lực: tổng những gì đang có và huy động được phải lớn hơn lượng sẽ tiêu. Ở mức chiến lược, điều kiện đó đọc ngược lại: phần thứ tư mà bạn vừa chọn, tức là tỷ lệ giữa nền tảng, phái sinh và cải tiến, phải vừa với số người và số tiền của dòng sản phẩm. Hai nền tảng mới cùng lúc với một nhóm kỹ thuật năm người là một chiến lược vượt sức. Sách nói rõ cách xử lý: khi lượng tiêu vượt quá nguồn lực, phải cắt bớt danh mục sản phẩm.
Về tự làm hay đi thuê, câu hỏi thường bị đẩy xuống phòng mua hàng như một chuyện giá cả. Thật ra đây là một lựa chọn chiến lược, vì nó quyết công ty giỏi lên ở đâu theo năm tháng. Việc gì công ty tự làm thì người trong công ty học được và giữ được. Việc gì đi thuê thì nhanh hơn, ít vốn hơn, nhưng cái học được nằm ở bên ngoài.
Luật để chọn rút từ bài 3: việc gắn trực tiếp với cách hơn người khác thì nên tự làm, hoặc ít nhất tự hiểu đủ sâu để kiểm được bên làm thuê. Chọn hơn bằng trải nghiệm khi dùng thì việc đi quan sát người dùng không nên thuê hết. Chọn hơn bằng giá thì việc làm khuôn và tối ưu chi phí sản xuất là việc cần nắm. Những việc không gắn với cách hơn người khác thì đi thuê là hợp lý.
Sách RDI Toolkit 2019 (trang 159 tới 161) đặt ba hãng điện thoại lớn cạnh nhau với ba cách khác nhau: tự làm gần hết linh kiện, tự thiết kế rồi thuê sản xuất, và học theo rồi lắp ráp với giá thấp. Đó là ví dụ của sách, nhắc ở đây chỉ để thấy cùng một ngành có thể chọn ba cách rất khác nhau.
| Làm những loại sản phẩm nào | Dựa vào đâu | |
|---|---|---|
| Trả lời câu | trong vài năm, chia sức cho mới hoàn toàn, nền tảng, phái sinh, cải tiến theo tỷ lệ nào | công nghệ nào, nguồn lực nào, việc gì tự làm, việc gì thuê |
| Quyết định nặng nhất | dựng nền tảng nào, khi nào dựng nền tảng kế tiếp | công nghệ đặt cho nền tảng đang ở đoạn nào của đường chữ S |
| Phải khớp với | cách hơn người khác: hơn bằng giá nghiêng về phái sinh, cải tiến; hơn bằng công nghệ cần chỗ cho nền tảng mới | độ dài của chiến lược, và số người, số tiền thật có |
| Câu hỏi để soi | nền tảng hiện tại đã bao nhiêu năm, có ai đang nghĩ tới nền tảng sau không | việc gắn với cách hơn người khác đang tự làm hay đang thuê hết |
Bốn loại sản phẩm, xếp theo rủi ro giảm dần: mới hoàn toàn · nền tảng · phái sinh · cải tiến. Ba đoạn của đường chữ S: hình thành · tăng trưởng · thoái trào.
Chỉ làm phái sinh và cải tiến mãi, không bao giờ dựng nền tảng mới. Năm nào dòng sản phẩm cũng ra mẫu mới, nhưng tất cả đều đứng trên một khung đã có từ rất lâu. Người ta sai vì mỗi bản phái sinh đều có lãi và ra nhanh, còn một nền tảng mới thì tốn tiền, mất thời gian, và chưa chắc thành. Năm nào cũng có lý do để hoãn. Hậu quả rơi vào công ty sau vài năm: khi đối thủ ra một nền tảng mới, dòng sản phẩm không còn gì để đáp lại ngoài hạ giá. Cách tránh là ghi thẳng vào chiến lược một tỷ lệ nhỏ nguồn lực cho nền tảng kế tiếp, và không để tỷ lệ đó bị rút sang làm phái sinh khi có đơn gấp.
Đặt một chiến lược năm năm lên một công nghệ đang ở cuối đường chữ S. Chiến lược chọn hơn người khác bằng một công nghệ mà công ty làm rất giỏi, nhưng công nghệ ấy đang bị thay dần. Người ta sai vì công nghệ ở cuối đường là công nghệ công ty hiểu rõ nhất, rẻ nhất, và đang mang lại tiền. Hậu quả rơi vào những dự án đầu tư dài: khuôn, dây chuyền và đội ngũ dựng cho một công nghệ sắp lỗi thời. Cách tránh là với mỗi công nghệ chính, ghi ra nó đang ở đoạn nào và vì sao nghĩ vậy, rồi so với độ dài của chiến lược.
Chọn một chiến lược vượt quá nguồn lực, rồi bù bằng làm thêm giờ. Chiến lược ghi một năm ra hai nền tảng và sáu bản phái sinh, trong khi nhóm kỹ thuật chỉ đủ làm một nửa. Người ta sai vì cắt bớt danh mục nghe như cắt bớt tham vọng, và làm thêm giờ thì không phải ghi vào văn bản nào. Hậu quả rơi vào nhóm kỹ thuật trước, rồi tới sản phẩm: các dự án cùng trễ, phần thử nghiệm bị rút ngắn, lỗi lọt ra thị trường. Cách tránh là làm phép cân đối nguồn lực ngay khi viết phần thứ tư, và cắt danh mục trên giấy trước khi phải cắt trên thực tế.
Ví dụ dưới đây lấy từ văn bản pháp luật công khai của Liên minh châu Âu, đăng trên trang EUR-Lex, nên bạn tra lại được.
Quy định (EC) số 244/2009 của Uỷ ban châu Âu, ban hành ngày 18 tháng 3 năm 2009, đặt yêu cầu về hiệu suất cho bóng đèn gia dụng chiếu sáng mọi hướng. Yêu cầu được siết theo sáu bậc, từ ngày 1 tháng 9 năm 2009 tới ngày 1 tháng 9 năm 2016. Mỗi bậc hạ dần ngưỡng độ sáng mà từ đó trở lên bóng đèn phải đạt mức hiệu suất cao, nên bóng sợi đốt loại sáng nhất phải rời thị trường trước, loại nhỏ hơn rời sau. Văn bản ước tính riêng trong năm 2020 tiết kiệm được 39 tỷ ki-lô-oát giờ điện, so với khi không có quy định.
Nhìn theo bài này: với bóng sợi đốt, đoạn cuối của đường chữ S có cả lịch ghi rõ ngày. Một chiến lược năm năm cho dòng đèn gia dụng bán vào châu Âu, viết năm 2009, mà vẫn đặt lên bóng sợi đốt, là đặt lên một công nghệ có ngày hết hạn.
Của MES LAB
RDI Toolkit 2019, chương 5, các trang 159 tới 161 và 172 tới 176, TS. Trần Anh Tuấn và MES LAB — bốn loại sản phẩm, quỹ đạo công nghệ, kiểm nguồn lực, và ba cách tự làm hay đi thuê của ba hãng điện thoại.
Thiết kế và Phát triển sản phẩm 2020, chương 4 trang 74 tới 82, MES LAB — bốn loại dự án, ưu tiên theo quỹ đạo công nghệ và theo nền tảng, cân đối nguồn lực.
Bên ngoài
«Revolutionizing Product Development», Steven C. Wheelwright và Kim B. Clark, 1992 — sách gốc của cách chia sản phẩm theo mức thay đổi so với cái đang có.
«The Power of Product Platforms», Marc H. Meyer và Alvin P. Lehnerd, 1997 — sách về cách dựng nền tảng và họ sản phẩm.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.