m.school › Các bước phát triển một sản phẩm mới › bài 4
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một xưởng lần đầu dùng một loại vật liệu chưa từng làm, và sản phẩm sẽ có khuôn mới. Theo cách chia bốn ô của bài, nên chọn cách làm nào?
Đây là ô sửa về sau đắt và đầu dự án chưa biết chắc. Rủi ro phải được gỡ bằng mẫu thử trước, và khoản tiền khuôn vẫn cần một cổng chặn trước. Lặp ngắn chỉ hợp khi sửa về sau rẻ. Xem mục 1.
Câu 2. Một công ty làm đồ chơi trẻ em, loại hàng phải qua quy định an toàn. Theo bài, vì sao nên dùng mô hình chữ V, hoặc khung có cổng mà bên trong theo hình chữ V?
Cơ quan quản lý và người đánh giá chứng nhận sẽ hỏi mỗi yêu cầu đã được thử bằng phép thử nào, kết quả ở đâu, và lần ngược được về yêu cầu nào. Hình chữ V buộc đội trả lời được câu đó ngay trong lúc làm. Xem mục 2.
Câu 3. Xưởng làm một bộ hộp mới có nắp gài, cần khuôn mới. Không dùng vật liệu mới, tiền khuôn không lớn so với cỡ công ty, và xưởng đã làm loại hộp này nhiều lần. Theo năm câu hỏi của bài, dự án thuộc loại nào?
Câu một, cần khuôn mới, có nên ít nhất là loại trung bình. Câu ba và câu bốn đều không nên không lên loại phức tạp. Lời giải mẫu của bài xếp đúng dự án này vào loại trung bình. Xem mục 3.
Câu 4. Theo bài, khi ghép khung có cổng với vòng lặp ngắn, việc nên chia thế nào?
Cổng giữ các quyết định như có làm dự án không, có mở khuôn không, có đưa ra thị trường không. Vòng lặp chạy bên trong chặng, nhất là chặng tìm và chọn phương án và chặng làm mẫu, không nằm vắt qua cổng. Xem mục 4.
Câu 5. Một xưởng ba chục người mua về bộ quy trình của một tập đoàn, đủ hai chục bước và năm sáu tầng duyệt. Theo bài, nên làm thế nào?
Quy trình của tập đoàn sinh ra cho nhiều phòng ban và nhiều tầng duyệt. Giữ nguyên lý là giữ cổng trước những khoản tiền lớn và một người quyết ở mỗi cổng; cắt hình thức là co số bước và số tờ phải nộp theo cỡ công ty. Áp nguyên bộ làm giấy tờ dày hơn việc. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy ba dự án mà công ty bạn đang làm hoặc vừa làm xong, nên chọn ba dự án khác nhau về độ lớn. Với từng dự án, trả lời năm câu hỏi ở mục 3 theo đúng thứ tự và ghi loại ra. Sau đó với dự án nặng nhất, chọn mô hình theo bảng tổng hợp, rồi vẽ một đường thẳng các chặng: đánh dấu chỗ đặt cổng, ghi cổng đó giữ quyết định gì, và đánh dấu chặng nào chạy vòng lặp ngắn bên trong.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, mỗi loại bạn xếp đều chỉ ra được câu hỏi nào đã quyết định nó. Hai, mỗi cổng trên hình gắn với một khoản tiền khó lấy lại hoặc một quyết định khó đảo ngược. Ba, vòng lặp ngắn chỉ nằm bên trong chặng, không nằm vắt qua cổng.
Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, cả ba dự án ra cùng một loại mà bạn không thấy lạ. Hai, có cổng không giữ quyết định nào, chỉ để báo cáo. Ba, bạn phân vân mà vẫn chọn loại nhẹ hơn.
Lời giải mẫu. Một xưởng nhựa gia dụng có ba dự án. Đổi màu và nhãn cho một bộ hộp đựng: câu 1 và câu 2 không, câu 3 và câu 4 không, câu 5 có, nên là loại đơn giản, một cổng. Một bộ hộp mới có nắp gài, cần khuôn mới: câu 1 có, các câu sau không, nên là loại trung bình. Một chiếc máy xay cầm tay, lần đầu xưởng làm hàng có động cơ: câu 4 có, nên là loại phức tạp. Với dự án máy xay, có rủi ro công nghệ ở động cơ và độ ồn, nên chạy hai vòng mẫu thử kiểu xoắn ốc trước, rồi vào khung có cổng. Cổng thứ nhất sau chặng thăm dò, cổng thứ hai trước khi đầu tư vào phương án, cổng thứ ba trước khi mở khuôn, cổng thứ tư trước khi đưa ra thị trường. Vòng hai tuần chạy trong chặng làm ra mẫu chạy được.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 3 giới thiệu sáu mô hình và giả định gốc của từng mô hình. Bài này trả lời câu hỏi tiếp theo: với sản phẩm của bạn thì dùng mô hình nào, và quy trình nên dày tới đâu. Có hai quyết định tách nhau. Một là chọn hình dạng của con đường. Hai là chọn số chặng và số cổng cho từng dự án cụ thể.
Bài 3 đã nêu hai câu hỏi để so các mô hình. Ở bài này, hai câu đó thành hai tiêu chí để chọn.
Tiêu chí thứ nhất là chi phí sửa về sau (cost of change): một thay đổi làm muộn tốn hơn bao nhiêu so với cùng thay đổi đó làm sớm. Có năm thứ đẩy chi phí này lên. Khuôn và đồ gá, vì khuôn làm theo một bản vẽ. Chứng nhận, vì đổi thiết kế có khi phải thử lại từ đầu. Vật liệu đã đặt với số lượng lớn. Hàng đã nằm trong kho và trên kệ. Và lời hứa với khách trong hợp đồng.
Tiêu chí thứ hai là mức biết chắc ở đầu dự án. Có hai câu cần hỏi riêng. Nhu cầu của người dùng đã rõ chưa, có bằng chứng hiện trường chưa. Và công nghệ đã từng làm chưa, hay chưa ai biết có làm được không. Một dự án có thể rõ nhu cầu mà chưa chắc công nghệ, hoặc ngược lại.
Đặt hai tiêu chí cạnh nhau thì ra bốn ô. Cách chia bốn ô dưới đây là cách nhìn của chúng tôi để dễ chọn, không phải một bảng chuẩn của ngành.
Sửa về sau đắt, đầu dự án biết chắc. Ví dụ một đời mới của sản phẩm đã làm nhiều lần, có khuôn mới. Mô hình có cổng hợp nhất, vì việc chính là chặn những khoản tiền lớn bằng những quyết định có căn cứ.
Sửa về sau đắt, đầu dự án chưa biết chắc. Ví dụ lần đầu dùng một loại động cơ hay một loại vật liệu. Nên chạy vài vòng theo kiểu xoắn ốc để gỡ rủi ro bằng mẫu thử trước, rồi mới vào khúc có cổng trước khi mở khuôn.
Sửa về sau rẻ, đầu dự án chưa biết chắc. Ví dụ một ứng dụng trên điện thoại cho một nhóm người dùng mới. Lặp ngắn, hoặc khởi nghiệp tinh gọn nếu chưa rõ có ai cần.
Sửa về sau rẻ, đầu dự án biết chắc. Ví dụ thêm một tính năng nhỏ cho phần mềm đang chạy. Quy trình càng nhẹ càng tốt.
Ở Việt Nam, hai đầu của tiêu chí thứ nhất hay đứng cạnh nhau ngay trong một công ty. Đây là bối cảnh chung, không lấy từ công ty nào. Một xưởng nhựa làm hộp đựng thực phẩm bán cho chuỗi siêu thị muốn đổi một đường gân sau khi khuôn thép đã cắt thì phải gửi khuôn đi sửa, làm mẫu mới và duyệt lại. Cũng công ty ấy làm một trang đặt hàng trên mạng cho đại lý thì đổi vị trí một nút bấm có khi chỉ cần sửa và đưa lên lại trong ngày. Hai việc ấy nằm ở hai ô khác nhau, nên không nên đi chung một quy trình.
Từ bốn ô trên, có thể ghép loại sản phẩm với mô hình như sau. Đây là chỗ khởi đầu để bàn, không phải luật cứng.
Hàng có khuôn và vốn lớn, như đồ gia dụng, đồ nhựa, đồ cơ khí: dùng khung có cổng. Cổng đặt ngay trước những điểm mà tiền bỏ ra không lấy lại được, như bài 2 đã nói: trước khi đầu tư nghiêm túc vào một phương án, trước khi mở khuôn, và trước khi đưa ra thị trường.
Hàng phải qua quy định an toàn, như thiết bị y tế, đồ chơi trẻ em, thiết bị điện: dùng mô hình chữ V, hoặc khung có cổng mà bên trong theo hình chữ V. Lý do là cơ quan quản lý và người đánh giá chứng nhận sẽ hỏi: mỗi yêu cầu đã được thử bằng phép thử nào, kết quả nằm ở đâu, và lần ngược được về yêu cầu nào. Hình chữ V buộc đội trả lời được câu đó ngay trong lúc làm.
Hàng có rủi ro công nghệ, tức là chưa biết có làm ra được không: chạy vài vòng xoắn ốc ở đầu. Mỗi vòng làm một mẫu nhỏ để trả lời đúng một câu hỏi rủi ro, rồi mới chốt phương án.
Phần mềm và dịch vụ số: lặp ngắn. Sửa về sau rẻ, và người dùng thấy được phần mới sau mỗi vòng.
Thị trường chưa rõ vấn đề: đặt kim cương đôi ở đầu, để tìm đúng vấn đề trước khi chọn bất kỳ mô hình nào cho khúc sau.
Một sản phẩm có thể chứa nhiều loại cùng lúc. Một nồi cơm điện có phần mềm điều khiển thì phần vỏ và mâm nhiệt có khuôn, đi theo cổng. Phần mềm bên trong thì chạy được vòng lặp ngắn, cho tới mốc mà nó phải được khoá lại để thử hợp quy cùng cả sản phẩm.
Chọn mô hình mới là chọn hình dạng. Còn một quyết định thứ hai: dự án này cần bao nhiêu chặng và bao nhiêu cổng. Sách của chúng tôi gọi đây là độ dày quy trình, và nêu thẳng một bệnh hay gặp: một cỡ cho tất cả, tức là bắt mọi dự án đi qua cùng một chuỗi bước.
Sách giáo trình của chúng tôi chia dự án thành ba loại. Loại phức tạp đi qua khoảng năm chặng với bốn cổng chính. Loại trung bình đi qua khoảng ba chặng với hai cổng. Loại đơn giản chỉ cần hai chặng và một cổng. Để xếp loại, sách đề nghị năm câu hỏi, trả lời theo đúng thứ tự:
1. Dự án có cần khuôn mới, hoặc sửa khuôn đáng kể không? Có thì ít nhất là loại trung bình. 2. Dự án có dùng vật liệu hoặc công thức chưa từng dùng không? Có thì ít nhất là loại trung bình. 3. Tiền khuôn cộng tiền nghiên cứu có lớn so với cỡ công ty không? Có thì là loại phức tạp. 4. Đây có phải lần đầu công ty làm loại sản phẩm này không? Có thì là loại phức tạp. 5. Thay đổi có chỉ là đồ hoạ, màu sắc hoặc bao bì, không đụng tới vật liệu và kết cấu không? Có thì là loại đơn giản, không thì là loại trung bình.
Sách có ghi ngưỡng tiền cụ thể cho câu thứ ba. Chúng tôi không đưa con số đó vào đây, vì ngưỡng ấy tuỳ ngành và tuỳ cỡ công ty.
Có một luật đi kèm: phân vân giữa hai loại thì chọn loại nặng hơn. Theo kinh nghiệm sách nêu, dùng quy trình nặng cho một dự án thật ra nhẹ chỉ tốn thêm hai ba ngày giấy tờ. Dùng quy trình nhẹ cho một dự án thật ra nặng thì có thể tốn thêm ba tới sáu tháng, vì chỗ sai lộ ra khi đã có khuôn. Đó là con số kinh nghiệm, không phải số đo chung của ngành, nhưng chiều lệch của nó thì đáng tin.
Sách cũng chia dự án theo một trục khác, thành bốn loại: đổi mới hoàn toàn, tiến hoá từ sản phẩm đang có, biến thể nhỏ, và cải tiến hấp thụ. Cải tiến hấp thụ là học từ một sản phẩm đã thành công của hãng khác, hiểu vì sao nó thành công, rồi làm phiên bản riêng có điểm khác biệt hợp với người dùng của mình. Sách nhận xét loại này rất hay gặp ở các công ty Việt Nam mà ít được đặt tên trong tài liệu quốc tế. Nó thường hợp loại trung bình, với sức dồn vào chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ và chặng tìm và chọn phương án.
Nhiều người hỏi khung có cổng và cách làm lặp ngắn có chống nhau không. Sách giáo trình của chúng tôi trả lời là không, và chúng bổ sung cho nhau nếu ghép đúng chỗ.
Cách ghép là chia việc cho rõ. Cổng giữ những quyết định khó đảo ngược: có làm dự án này không, có mở khuôn không, có đưa ra thị trường không. Những quyết định đó cần một người có quyền nhìn vào bằng chứng. Vòng lặp ngắn chạy bên trong chặng, nhất là chặng tìm và chọn phương án và chặng làm ra mẫu chạy được. Ở đó chưa biết chắc nhiều thứ, và cần học nhanh. Sách nêu ví dụ các vòng hai tuần: mỗi vòng có mục tiêu viết ra trước, cuối vòng có một mẫu hoặc một kết quả thử để cả đội xem, rồi chỉnh kế hoạch cho vòng sau. Toàn bộ các vòng vẫn phải xong trước mốc của cổng kế tiếp.
Robert Cooper, người đặt ra mô hình có cổng, cũng đã viết về cách ghép này. Bài báo năm 2016 của ông trên tạp chí Research-Technology Management có tên «Agile–Stage-Gate Hybrids», nghĩa là các cách ghép mô hình có cổng với cách làm linh hoạt. Bài báo mô tả các hãng làm sản phẩm vật lý đưa vòng lặp ngắn vào bên trong khung có cổng. Theo ông, cách ghép này giúp ra sản phẩm nhanh hơn và phản ứng tốt hơn khi yêu cầu của khách đổi.
Đặt vào sáu chặng của lớp này, một dự án loại phức tạp có thể trông như sau. Cổng sau chặng thăm dò. Các vòng ngắn trong chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ và chặng tìm và chọn phương án. Cổng trước khi đầu tư vào phương án đã chọn. Các vòng ngắn trong chặng làm ra mẫu chạy được. Cổng ở mốc chốt thiết kế, trước khi mở khuôn. Rồi chặng kiểm chứng và cổng trước khi đưa ra thị trường.
Sách cẩm nang của chúng tôi nhắc một điều: đừng bê nguyên quy trình của một tập đoàn lớn về một xưởng nhỏ. Quy trình của tập đoàn sinh ra cho nhiều phòng ban và nhiều tầng duyệt. Ở xưởng ba chục người, cũng các cổng ấy, mỗi cổng có thể chỉ là một buổi họp ngắn với đúng một người quyết.
| Loại sản phẩm hoặc hoàn cảnh | Vì sao | Mô hình hợp | Độ dày gợi ý |
|---|---|---|---|
| Hàng có khuôn, vốn lớn | sửa sau khi mở khuôn rất đắt | khung có cổng, có thể có vòng ngắn bên trong chặng | trung bình tới phức tạp |
| Hàng phải qua quy định an toàn | mỗi yêu cầu phải có phép thử và lần ngược được | chữ V, hoặc khung có cổng theo hình chữ V | phức tạp |
| Hàng có rủi ro công nghệ | chưa biết có làm ra được không | vài vòng xoắn ốc ở đầu, rồi cổng trước khuôn | phức tạp |
| Phần mềm, dịch vụ số | sửa về sau rẻ, yêu cầu hay đổi | lặp ngắn | tuỳ quy mô |
| Thị trường chưa rõ vấn đề | chọn sai vấn đề thì mọi việc sau đều phí | kim cương đôi ở đầu | tuỳ khúc sau |
| Chỉ đổi màu, đồ hoạ, bao bì | không đụng vật liệu và kết cấu | một chặng làm, một cổng duyệt | đơn giản |
Hai cột giữa trả lời hai câu khác nhau. Cột mô hình nói con đường có hình gì. Cột độ dày nói con đường dài bao nhiêu chặng và bao nhiêu cổng.
Bê nguyên quy trình của một tập đoàn về xưởng nhỏ. Một công ty vừa mua về bộ quy trình của một tập đoàn, đủ hai chục bước và năm sáu tầng duyệt. Người ta sai vì quy trình của hãng lớn trông bài bản và có tiếng, nên dùng nó có vẻ an toàn. Hậu quả rơi vào đội dự án: mỗi cổng phải chờ những người không có trong công ty, giấy tờ dày hơn việc, và sau vài dự án mọi người lặng lẽ quay về cách làm cũ. Cách tránh là giữ nguyên lý, cắt hình thức: giữ cổng trước những khoản tiền lớn, giữ một người quyết ở mỗi cổng, còn số bước và số tờ phải nộp thì co theo cỡ công ty.
Một cỡ cho mọi dự án. Công ty có một quy trình và bắt mọi dự án đi qua đủ. Người ta sai vì một quy trình thì dễ dạy, dễ kiểm. Hậu quả rơi vào cả hai đầu. Dự án đổi bao bì bị kéo dài vô ích nên người ta tìm cách đi tắt, và thói đi tắt lây sang dự án lớn. Dự án hoàn toàn mới thì lại thiếu chỗ chặn ở khúc rủi ro nhất. Cách tránh là xếp loại mọi dự án bằng năm câu hỏi ở mục 3 ngay ở chặng thăm dò, và ghi loại đó vào đề bài của dự án.
Xếp loại một lần rồi không xếp lại. Một dự án được xếp loại đơn giản vì nghe như chỉ đổi màu và thêm một tính năng nhỏ. Về sau tính năng đó cần thêm một chi tiết cơ khí và một bộ khuôn mới, nhưng dự án vẫn chạy theo quy trình loại đơn giản. Người ta sai vì xếp loại được coi là thủ tục đầu dự án, làm xong là quên. Hậu quả rơi vào tiến độ và tiền: sách giáo trình của chúng tôi ghi lại một dự án kế hoạch sáu tuần thành năm tháng vì đúng chỗ này. Cách tránh là hỏi lại năm câu ở mỗi cổng. Bài 5 sẽ nói kỹ khi nào phải xếp lại.
Ví dụ dưới đây là quy định công khai của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, tra được trên trang của cơ quan.
Năm 1990, một đạo luật về an toàn thiết bị y tế cho phép cơ quan này đặt thêm yêu cầu kiểm soát thiết kế (design controls). Căn cứ là một nghiên cứu của cơ quan: khoảng 44 phần trăm số vụ hãng tự thu hồi thiết bị từ tháng 10 năm 1983 tới tháng 9 năm 1989 có thể đã tránh được nếu thiết kế được kiểm soát đủ. Yêu cầu này có hiệu lực từ năm 1997. Từ ngày 2 tháng 2 năm 2026, quy định mới của cơ quan dẫn thẳng tiêu chuẩn quốc tế ISO 13485 bản năm 2016. Mục về thiết kế của tiêu chuẩn đòi hai việc tách nhau: kiểm tra xác nhận đầu ra thiết kế đạt đầu vào thiết kế, và xác nhận giá trị sử dụng sản phẩm đáp ứng mục đích dùng.
Nhìn theo bài này: ở loại hàng này, sửa về sau có thể phải trả bằng sức khoẻ người bệnh, nên hình chữ V được ghi thành quy định.
Điều rút ra: khi sửa về sau quá đắt, chọn mô hình không còn là sở thích của đội.
Của MES LAB
Bài 5 của chính lớp này: khi nào phải quay lại chặng trước, và khi nào phải xếp loại lại một dự án.
Lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, hiện chưa mở. Khi mở, lớp đó sẽ dạy cách tổ chức từng cổng: ai ngồi, hỏi gì, và vì sao một cổng làm cho có thì còn tệ hơn không có.
Bên ngoài
Robert G. Cooper, "Agile–Stage-Gate Hybrids", tạp chí Research-Technology Management, năm 2016 — các hãng làm sản phẩm vật lý ghép vòng lặp ngắn vào khung có cổng ra sao.
Tiêu chuẩn ISO 13485 bản năm 2016, mục về thiết kế và phát triển — đọc để thấy kiểm tra xác nhận, xác nhận giá trị sử dụng và kiểm soát thay đổi được ghi thành yêu cầu cho một ngành phải truy ngược mọi thứ.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.