m.school › Một nơi làm sản phẩm tử tế thì vận hành thế nào › bài 1
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một nhà cung cấp báo ngừng làm một linh kiện, và kỹ sư phải tìm linh kiện thay rồi thử lại. Việc này thuộc nhóm việc nào?
Tìm linh kiện thay khi nhà cung cấp ngừng làm là ví dụ của nhóm chăm sản phẩm đang bán. Nó không phải sản phẩm mới, nhưng không ai làm thì sản phẩm đang bán hỏng dần. Xem mục 2.
Câu 2. Một kỹ sư dành hai tuần thử một loại nhựa chưa dùng tới, dù chưa dự án nào cần. Theo bài, khi bộ phận thiếu người, nhóm việc này thường ra sao?
Thử vật liệu mới thuộc nhóm giữ và nâng năng lực, nhóm gần như không ai đòi vào một ngày cụ thể. Vì thế khi thiếu người, nhóm này bị bỏ trước, rồi đến nhóm chọn việc. Xem mục 2.
Câu 3. Theo Sổ tay Frascati, vì sao phát triển thử nghiệm không phải là cả quá trình phát triển sản phẩm?
Phát triển sản phẩm là cả quá trình từ ý tưởng tới khi bán ra. Phát triển thử nghiệm chỉ là chặng mà tri thức chung được thử cho một ứng dụng cụ thể. Xem mục 3.
Câu 4. Phòng của bạn mang tên nghiên cứu phát triển, nhưng việc hằng ngày gần hết là sửa lỗi bảo hành và đổi linh kiện. Theo bài, nên làm gì trước?
Sổ tay Frascati không tính xử lý sự cố sau bán hàng là nghiên cứu phát triển, và làm việc ấy cũng không có gì sai. Cách tránh là gọi đúng tên từng loại việc trước, rồi mới bàn nên làm gì thêm. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Câu 5. Báo cáo hằng tháng của bộ phận chỉ liệt kê các dự án có tên. Lãnh đạo thấy bộ phận chậm, và lần chia người sau lại cắt bớt. Theo bài, cách tránh là gì?
Chỉ đếm việc có tên dự án thì nhóm chăm sản phẩm đang bán và nhóm giữ năng lực ăn thời gian thật mà không hiện ra ở đâu. Ghi riêng thời gian cho bốn nhóm cho thấy nhóm nào đang ăn thời gian của nhóm nào. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy lịch làm việc của bộ phận bạn trong hai tuần gần nhất, hoặc nhớ lại nếu không có lịch. Liệt kê khoảng mười lăm việc đã làm, mỗi việc một dòng. Xếp mỗi việc vào một trong bốn nhóm ở bảng tổng hợp. Với mỗi việc ở nhóm hai, ghi thêm nó là phát triển thử nghiệm theo nghĩa của mục 3, hay là việc khác trong dự án. Cuối cùng, với mỗi nhóm việc, ghi một tên người đang nhận nhóm ấy.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: bốn nhóm đều có việc, hoặc bạn nói được vì sao một nhóm trống. Có ít nhất một việc bạn phải nghĩ lâu mới xếp được, vì nó nằm ở chỗ giáp ranh. Mỗi nhóm có một tên người, hoặc ghi rõ là chưa ai nhận. Dấu hiệu còn sai: mọi việc đều rơi vào nhóm hai. Khi ấy bạn đang chỉ nhìn dự án, chưa nhìn bộ phận. Hoặc cột tên người ghi tên phòng, nên không thấy được ai đang gánh gì.
Lời giải mẫu. Một bộ phận kỹ thuật bốn người ở một xưởng làm đồ điện gia dụng. Mười lăm việc chia ra: hai việc chọn việc (đọc góp ý từ đại lý, chuẩn bị một trang cho cuộc họp với giám đốc), bốn việc của một dự án quạt mới, tám việc chăm sản phẩm đang bán (ba lần xuống chuyền, hai lần đổi linh kiện, ba việc cho lỗi bảo hành), một việc giữ năng lực (thử một loại nhựa mới). Trong bốn việc dự án, chỉ một việc là phát triển thử nghiệm: thử cánh quạt kiểu mới. Nhóm giữ năng lực không có ai nhận, việc thử nhựa là do một kỹ sư tự làm ngoài giờ. Nhóm chăm sản phẩm đang bán chiếm hơn nửa số việc.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, đã nói về một đội trong một dự án. Lớp này lùi ra một bước, nhìn cả một bộ phận sống lâu dài trong công ty. Bài đầu chỉ làm một việc: kể ra bộ phận ấy thật ra làm những việc gì. Các vai sẽ ở bài 2. Các kiểu tổ chức sẽ ở bài 3.
Trong lớp này, bộ phận làm sản phẩm là nhóm người trong công ty có việc thường xuyên là nghĩ ra, làm ra và chăm sóc sản phẩm. Có nơi gọi nó là phòng nghiên cứu phát triển, có nơi gọi là phòng kỹ thuật, có nơi gọi là phòng thiết kế. Lớp này không gọi theo tên phòng, mà gọi theo việc. Một công ty không có phòng nào mang tên ấy vẫn có thể có một bộ phận làm sản phẩm, nằm rải ở vài phòng.
Dự án sản phẩm là một lần làm có đầu, có cuối, nhằm đưa một sản phẩm cụ thể ra thị trường hoặc sửa một sản phẩm đang có. Dự án xong thì nhóm dự án giải tán. Bộ phận thì vẫn còn, và ngày hôm sau nó lại có việc.
Vì sao phải tách hai chữ này ra? Vì phần lớn cách người ta nói về việc làm sản phẩm là nói về dự án. Dự án có tên, có ngày bắt đầu, có hạn chót, có người hỏi tiến độ. Những việc không thuộc dự án nào thì không có những thứ đó. Chúng vẫn phải làm, nhưng không ai đếm. Khi một nơi chỉ nhìn bộ phận làm sản phẩm qua danh sách dự án, nơi đó chỉ thấy một phần việc của bộ phận, và thường thấy phần dễ nhìn nhất.
Có một cách thử rất đơn giản. Hỏi một kỹ sư trong bộ phận: tuần trước bạn làm những việc gì, rồi đánh dấu việc nào thuộc một dự án có tên. Ở nhiều nơi, phần không đánh dấu được chiếm một khoảng đáng kể. Phần ấy không phải thời gian lãng phí. Nó là những nhóm việc mà mục sau sẽ gọi tên.
Nhìn qua nhiều nơi làm sản phẩm, việc của bộ phận gom được vào bốn nhóm.
Nhóm thứ nhất: chọn việc gì đáng làm. Ý tưởng sản phẩm đến từ nhiều phía: người bán hàng, khách đặt hàng, ban lãnh đạo, chính kỹ sư. Phải có người đón chúng, sàng sơ bộ, và đưa lên chỗ quyết những ý tưởng đáng bàn. Quyết làm sản phẩm nào thường thuộc ban lãnh đạo, nhưng chuẩn bị cho quyết định ấy là việc của bộ phận. Lớp này chỉ gọi tên nhóm việc này. Chọn thế nào là việc của bộ môn Chiến lược sản phẩm.
Nhóm thứ hai: đưa sản phẩm mới ra. Đây là nhóm việc ai cũng nghĩ tới đầu tiên: các dự án sản phẩm mới, đi qua các chặng mà lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, bài 2 đã kể.
Nhóm thứ ba: chăm sản phẩm đang bán. Một nhà cung cấp ngừng làm một linh kiện, phải tìm linh kiện thay và thử lại. Một lỗi bảo hành lặp lại, phải tìm nguyên nhân và sửa thiết kế. Phòng mua hàng cần giảm giá thành, phải xem chỗ nào đổi được mà không hỏng sản phẩm. Xưởng gặp khó khi chạy một mã hàng, phải xuống chuyền xem. Không việc nào trong số này là sản phẩm mới, nhưng sản phẩm đang bán sẽ hỏng dần nếu không ai làm chúng.
Nhóm thứ tư: giữ và nâng năng lực. Thử một vật liệu hay một công nghệ chưa dùng tới, để khi một dự án cần thì đã biết nó làm được gì. Giữ hồ sơ kỹ thuật cho người sau tìm được. Dạy người mới vào. Nhóm việc này không có hạn chót nào do người khác đòi.
Bốn nhóm có một điểm khác nhau quan trọng: ai sẽ đòi. Nhóm hai có hạn chót của dự án. Nhóm ba có xưởng và khách hàng gọi tới, thường rất gấp. Nhóm một có ban lãnh đạo hỏi, nhưng không đều. Nhóm bốn gần như không có ai đòi vào một ngày cụ thể. Vì thế, khi bộ phận thiếu người, nhóm bốn bị bỏ trước, rồi đến nhóm một. Bài 4 sẽ quay lại chỗ này.
Chữ nghiên cứu phát triển hay được dùng như một chữ. Nhưng trong tài liệu chính thức, nó gồm những loại việc khác nhau, và bạn nên biết định nghĩa trước khi dùng chữ ấy cho bộ phận của mình.
Tài liệu quốc tế được dùng nhiều nhất cho chỗ này là Sổ tay Frascati (Frascati Manual) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), bản năm 2015. Đây là sổ tay mà nhiều nước dùng để đếm hoạt động nghiên cứu phát triển cho thống kê quốc gia. Sổ tay chia nghiên cứu phát triển thành ba loại. Nghiên cứu cơ bản (basic research) là việc tìm tri thức mới về nền tảng của hiện tượng, không nhắm một ứng dụng cụ thể nào. Nghiên cứu ứng dụng (applied research) cũng tìm tri thức mới, nhưng nhắm một mục đích thực tế cụ thể. Phát triển thử nghiệm (experimental development) là việc có hệ thống, dùng tri thức từ nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế để làm ra sản phẩm, quy trình mới, hoặc cải tiến cái đang có.
Sổ tay còn đặt năm tiêu chí. Một việc chỉ được tính là nghiên cứu phát triển khi nó mới, có sáng tạo, chưa chắc kết quả, có kế hoạch, và kết quả chuyển giao hoặc làm lại được.
Có hai chỗ trong sổ tay rất đáng đọc với người làm sản phẩm. Chỗ thứ nhất, sổ tay nói rõ phát triển thử nghiệm không phải là phát triển sản phẩm. Phát triển sản phẩm là cả quá trình, từ ý tưởng tới khi bán ra. Phát triển thử nghiệm chỉ là một chặng trong đó, chặng mà tri thức chung được thử cho một ứng dụng cụ thể. Chỗ thứ hai, sổ tay liệt kê những việc không tính là nghiên cứu phát triển, kể cả khi người của bộ phận nghiên cứu phát triển làm. Trong danh sách có thử nghiệm thường lệ, và xử lý sự cố sau bán hàng.
Điều rút ra cho bộ phận của bạn: phần lớn nhóm việc thứ ba ở mục 2 không phải nghiên cứu phát triển theo nghĩa chặt. Như vậy không có gì sai. Chỉ cần bộ phận biết rõ mình đang làm loại việc nào, và không gọi tên chung cho tất cả.
Bộ phận làm sản phẩm không làm một mình. Sách giáo trình năm 2020 của chúng tôi nêu ba chuyên môn thường xuyên tham gia một dự án sản phẩm. Tiếp thị (marketing) là cầu nối giữa người mua, thị trường và nhóm thiết kế. Thiết kế là xương sống, lo phần cốt lõi của sản phẩm. Chế tạo là phía xưởng, đưa phản hồi để thiết kế hợp với dây chuyền đang có.
Một cuốn cẩm nang năm 2020 của chúng tôi đi xa hơn một bước, ghi từng việc trong quy trình thường do ai làm. Đánh giá ý tưởng và khả năng làm được thì có chủ doanh nghiệp và người quản lý. Lấy ý kiến người mua thì có tiếp thị. Xác định thông số thì có kỹ thuật và thiết kế. Làm mẫu thì có kỹ thuật, sản xuất và mua vật tư. Thử trên thị trường thì có tiếp thị. Sản xuất thử thì có sản xuất và quản lý. Bảng ấy viết cho một ngành cụ thể, nên bạn đừng chép nguyên. Điều đáng giữ là cách nhìn: mỗi việc có một chỗ giáp ranh với ít nhất một phòng khác.
Đem cách nhìn ấy áp vào bốn nhóm việc thì thấy mỗi nhóm có đầu nối riêng. Nhóm chọn việc nối với ban lãnh đạo và phía bán hàng. Nhóm đưa sản phẩm mới ra nối với gần như mọi phòng. Nhóm chăm sản phẩm đang bán nối chặt nhất với xưởng, mua hàng và bảo hành. Nhóm giữ năng lực nối với nhân sự, vì nó gồm việc dạy người.
Chỗ giáp ranh là chỗ việc hay rơi nhất. Một việc nằm giữa hai phòng thì phòng nào cũng có lý do để nghĩ rằng phòng kia đang làm. Bài 2 sẽ nói về những người giữ các đầu nối ấy.
| Nhóm việc | Trả lời câu hỏi nào | Ví dụ một việc | Hay chạm phòng nào | Dấu hiệu nhóm này đang bị bỏ |
|---|---|---|---|---|
| Chọn việc gì đáng làm | làm sản phẩm nào, vì sao | sàng ý tưởng trước khi trình lên | ban lãnh đạo, bán hàng | dự án mới bắt đầu bằng một câu nói trong cuộc họp |
| Đưa sản phẩm mới ra | làm ra cái đã chọn thế nào | chạy một dự án qua các chặng | gần như mọi phòng | dự án nào cũng trễ vì chờ nhau |
| Chăm sản phẩm đang bán | giữ cho cái đang bán không hỏng dần | tìm linh kiện thay khi nhà cung cấp ngừng làm | xưởng, mua hàng, bảo hành | một lỗi bảo hành lặp lại nhiều tháng |
| Giữ và nâng năng lực | lần sau có làm nhanh và đúng hơn không | thử một vật liệu mới trước khi dự án cần | nhân sự | dự án nào cũng làm lại từ đầu |
Hãy chụp lại bảng này. Cột cuối là cột dùng để soi nơi bạn đang làm.
Chỉ đếm việc có tên dự án. Báo cáo của bộ phận chỉ liệt kê dự án, nên lãnh đạo chỉ thấy dự án. Người ta sai vì dự án là thứ dễ đếm nhất: có tên, có hạn, có kết quả. Hậu quả rơi vào chính bộ phận: nhóm việc thứ ba và thứ tư chiếm thời gian thật mà không hiện ra ở đâu, nên bộ phận trông như chậm, và lần chia người sau lại thiếu. Cách tránh là ghi riêng thời gian cho bốn nhóm việc, kể cả ghi thô theo tuần, để thấy nhóm nào đang ăn thời gian của nhóm nào.
Gọi mọi việc là nghiên cứu phát triển, hoặc gọi bộ phận là nghiên cứu phát triển mà nó chỉ chăm sản phẩm cũ. Có nơi đặt tên phòng là nghiên cứu phát triển, nhưng việc hằng ngày gần hết là sửa lỗi và đổi linh kiện. Người ta sai vì cái tên nghe có tầm, và vì không ai đặt định nghĩa trước. Hậu quả rơi vào kỹ sư được tuyển vào với kỳ vọng làm sản phẩm mới, và vào lãnh đạo, người tưởng công ty đang có năng lực làm sản phẩm mới. Cách tránh là gọi đúng tên từng loại việc theo mục 3, rồi mới bàn bộ phận nên làm gì thêm.
Coi việc ở chỗ giáp ranh là việc của phòng khác. Việc lấy ý kiến người dùng nằm giữa tiếp thị và kỹ thuật. Việc giảm giá thành nằm giữa mua hàng và thiết kế. Người ta sai vì mỗi phòng được chấm theo việc trong phòng mình, không được chấm theo việc ở ranh giới. Hậu quả rơi vào sản phẩm: chỗ giáp ranh là chỗ không ai làm, và lỗi thường nằm đúng ở đó. Cách tránh là với mỗi việc giáp ranh, ghi một người cụ thể ở mỗi bên chịu trách nhiệm cho đầu nối.
Ví dụ dưới đây là văn bản luật của Việt Nam, toàn văn đăng công khai, nên bạn tra lại được.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, số 93/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2025. Điều 3 của luật giải thích từ ngữ, và tách riêng từng loại việc. Nghiên cứu cơ bản nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Nghiên cứu ứng dụng dùng tri thức khoa học để tạo ra giải pháp cho nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, đời sống. Phát triển công nghệ là quá trình thiết kế, thử nghiệm, hoàn thiện và chuẩn hoá quy trình kỹ thuật để tạo ra công nghệ mới hoặc cải tiến công nghệ. Sản xuất thử nghiệm là sản xuất thử sản phẩm mới trong điều kiện sản xuất thực tế, để kiểm soát chất lượng, chi phí và khả năng bán được, trước khi sản xuất thương mại.
Điều rút ra: ngay trong luật, chữ nghiên cứu phát triển đã được tách thành nhiều loại việc. Bộ phận của bạn cũng nên tách như vậy trước khi nói nó làm gì.
Của MES LAB
Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, bài 2 và bài 3 — nói các chặng của một dự án và các vai trong một đội dự án. Bài này nhìn ở tầm bộ phận, nên đọc hai bài ấy trước sẽ thấy rõ chỗ khác.
Bài 2 của lớp này, nói các vai thường trực trong một bộ phận làm sản phẩm — đọc tiếp ngay sau bài này.
Bên ngoài
"Frascati Manual 2015: Guidelines for Collecting and Reporting Data on Research and Experimental Development", Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế — chương 2 đặt định nghĩa ba loại nghiên cứu phát triển, năm tiêu chí, và bảng những việc được tính hay không được tính.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, Quốc hội Việt Nam — Điều 3 giải thích các loại hoạt động, từ nghiên cứu cơ bản tới sản xuất thử nghiệm.
"Product Design and Development", Karl Ulrich và Steven Eppinger — sách giáo trình về phát triển sản phẩm, có phần nói các chuyên môn tham gia một dự án sản phẩm và các cách tổ chức họ.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.