m.school › Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm › bài 1

Bài 1 · Năm nhịp của tư duy thiết kế nằm ở đâu trên sáu chặng, và vì sao nó dày ở đầu, mỏng ở cuối

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 145 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ đặt được năm nhịp của tư duy thiết kế lên sáu chặng phát triển sản phẩm bằng một bảng, cho một dự án bạn đang biết. Chỉ ra được ở mỗi chặng nhịp nào làm việc chính, nhịp nào chỉ góp phần. Phân biệt được lần làm bản mẫu hay lần đem đi thử nào là làm rẻ để học, lần nào là làm kỹ để chốt, rồi nói được mỗi loại thuộc chặng nào.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Một công ty tổ chức buổi làm việc nhóm hai ngày về tư duy thiết kế. Mọi người dán giấy, vẽ hành trình người dùng, rồi ai về việc nấy. Theo bài, vì sao việc này chưa phải là gắn cách nghĩ ấy vào quy trình?

  2. Câu 2. Đội vừa đi quan sát người dùng nhiều buổi, giờ ngồi gom những gì đã thấy thành một câu vấn đề đáng giải. Việc này là nhịp nào, và nằm ở đâu trên sáu chặng?

  3. Câu 3. Đội làm một mẫu bằng đúng vật liệu, đúng cách gia công. Nếu mẫu cho kết quả xấu thì khoản tiền đã bỏ ra phải giải trình với ban giám đốc. Đây là cách làm nào, và thuộc chặng nào?

  4. Câu 4. Người quản lý dự án thấy cả chặng tìm và chọn phương án lẫn chặng làm ra mẫu chạy được đều có làm bản mẫu, nên cắt lần ở chặng trước cho gọn. Theo bài, hậu quả hay gặp là gì?

  5. Câu 5. Ở chặng kiểm chứng, đội đưa mẫu cho người dùng thật và nhận được rất nhiều lời khen. Theo bài, kết quả này đã đủ chưa?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Chọn một dự án sản phẩm mà công ty bạn đang làm hoặc vừa làm xong. Kẻ lại bảng tổng hợp của bài, giữ nguyên cột chặng, rồi điền ba cột còn lại theo đúng những gì đã diễn ra trong dự án đó, không theo những gì nên diễn ra. Ở cột nhịp, ghi nhịp nào thật sự đã làm. Ở cột thứ ba, ghi làm rẻ để học hay làm kỹ để chốt. Ở cột thứ để lại, ghi tên tệp hoặc tên người đang giữ thứ đó. Chỗ nào không có gì thì để trống, đừng điền cho đủ. Cuối cùng, khoanh tròn chặng có nhiều ô trống nhất.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, bảng có ô trống, vì hầu như không dự án nào làm đủ. Hai, mỗi ô ở cột cuối là một thứ mở ra đọc được, không phải tên một cuộc họp. Ba, ở hàng tìm và chọn phương án, bạn ghi được ít nhất một lần làm bản mẫu rẻ để học, hoặc ghi rõ là không có.

Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, bảng kín hết, nghĩa là bạn đang điền theo quy trình trên giấy. Hai, cột thứ ba toàn là làm kỹ để chốt. Ba, ba hàng cuối đều trống ở cột nhịp mà bạn không thấy có gì lạ.

Lời giải mẫu. Dự án: một dòng quạt đứng có điều khiển từ xa. Thăm dò: có, làm rẻ để học, để lại một bảng tổng hợp phản hồi của đại lý. Tìm hiểu người dùng tại chỗ: trống, đội không đi nhà người dùng lần nào. Tìm và chọn phương án: có nghĩ ra ý, ba hướng, nhưng không làm bản mẫu rẻ nào để học; chọn bằng một buổi họp. Làm ra mẫu chạy được: có, làm kỹ để chốt, mẫu thứ hai đổi chỗ nút bấm vì lý do khuôn mà không ai soi lại xem người dùng có cần nút ở chỗ cũ không. Kiểm chứng: có thử độ bền, không thử với người dùng. Đưa ra thị trường: trống. Chặng khoanh tròn là tìm hiểu người dùng tại chỗ. Kết luận: dự án sau nên thêm một lần đi quan sát và một vòng bản mẫu bìa trước khi chọn phương án.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Lớp này nối hai thứ bạn đã học ở hai nơi khác nhau. Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, dạy cách nghĩ. Lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03, dạy con đường sáu chặng. Bài này không định nghĩa lại cả hai. Nó chỉ trả lời một câu: đặt cách nghĩ ấy lên con đường ấy thì nó nằm ở đâu.

1

Gắn vào quy trình nghĩa là mỗi nhịp có một chặng để đứng và một thứ phải để lại

Bắt đầu bằng một định nghĩa. Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm (integrating design thinking into the product development process) là làm sao để mỗi nhịp của cách nghĩ này có một chỗ đứng trong một chặng cụ thể. Ở chỗ đứng ấy có người chịu làm, có một thứ phải để lại khi xong, và có một cổng đọc thứ đó.

Năm nhịp ở đây là năm nhịp mà trường thiết kế thuộc Đại học Stanford phổ biến: hiểu người dùng (empathize), đặt lại vấn đề (define), nghĩ ra ý (ideate), làm bản mẫu (prototype) và đem đi thử (test). Sáu chặng là sáu chặng của lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03: thăm dò, tìm hiểu người dùng tại chỗ, tìm và chọn phương án, làm ra mẫu chạy được, kiểm chứng, đưa ra thị trường và đóng dự án.

Có hai cách hay gặp khiến cách nghĩ này đứng ngoài quy trình.

Cách thứ nhất là chạy nó như một hoạt động riêng. Công ty tổ chức một buổi tập huấn hay một buổi làm việc nhóm hai ngày. Mọi người dán giấy, vẽ hành trình người dùng, rồi ai về việc nấy. Kết quả của buổi ấy không đi vào chặng nào, nên không cổng nào đọc nó.

Cách thứ hai là ghi nó vào quy trình bằng một câu chung, kiểu mọi chặng đều lấy người dùng làm trung tâm. Câu đó đúng, nhưng không chỉ ra chặng nào phải làm gì. Khi dự án gấp, thứ không có chỗ đứng cụ thể luôn là thứ bị cắt đầu tiên.

Sách cũ của MES LAB, Cẩm nang phát triển sản phẩm bản 2020, đặt quan hệ này khá rõ. Sách nói có hai nền tảng. Nền thứ nhất là một quy trình có các bước đã được kiểm nghiệm, dựng theo tư duy thiết kế. Nền thứ hai là các kỹ thuật thiết kế, nằm bên trong từng bước. Nói cách khác, quy trình là khung, kỹ thuật là cách làm trong khung, còn tư duy thiết kế quyết định thứ tự của các bước đầu.

Bài này dùng đúng cách nhìn đó. Câu hỏi không phải là có dùng tư duy thiết kế hay không. Câu hỏi là dùng nhịp nào, ở chặng nào, và để lại cái gì.

2

Đặt năm nhịp lên sáu chặng thì ba nhịp đầu nằm gọn trong ba chặng đầu

Đặt từng nhịp lên con đường, bạn sẽ thấy một hình dạng rất rõ.

Nhịp hiểu người dùng làm việc chính ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Đó là chặng mà câu hỏi của nó là người dùng thật sự cần gì, có bằng chứng hiện trường chưa. Nhịp này cũng góp một phần nhỏ ở chặng thăm dò, nhưng chỉ đủ để biết nỗi khó mình định giải có thật hay không. Thăm dò không phải lúc để hiểu sâu. Hiểu sâu một nỗi khó chưa chắc có thật là bỏ công vào chỗ có thể không có gì.

Nhịp đặt lại vấn đề nằm ở cuối chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Đây là nhịp gom những gì đã quan sát thành một câu vấn đề đáng giải. Câu ấy là thứ quan trọng nhất mà chặng này để lại, vì cả chặng sau đứng trên nó.

Nhịp nghĩ ra ý làm việc chính ở chặng tìm và chọn phương án. Ở đây cách nghĩ này đòi mở rộng trước khi thu hẹp: có nhiều hướng rồi mới chọn.

Nhịp làm bản mẫu và nhịp đem đi thử thì khó đặt hơn, vì chúng xuất hiện ở nhiều chặng. Mục 3 sẽ gỡ chỗ này.

Vậy ba nhịp đầu nằm gọn trong ba chặng đầu. Đây không phải chuyện tình cờ. Cả ba chặng đầu cùng trả lời một câu lớn: nên làm ra cái gì. Tư duy thiết kế sinh ra chính để trả lời câu đó.

Sách chính của MES LAB, Phát triển sản phẩm hướng thị trường, nói thẳng điều này ở phần phụ lục về tư duy thiết kế. Sách viết rằng cách nghĩ này dừng lại khi phương án đã được người dùng gật đầu. Còn trong sản xuất thật, gật đầu mới là nửa đường. Phần còn lại là biến phương án thành thứ nhà máy làm ra được, kiểm chất lượng, và bán ra thật. Ba việc đó là ba chặng sau.

Có một điểm cần nói để không ai hiểu sai. Ba chặng đầu là nơi cách nghĩ này dày nhất, nhưng nó còn có mặt ở cả ba chặng sau. Mục 4 sẽ nói nó còn lại gì ở ba chặng sau.

3

Mỗi nhịp có thể làm rẻ để học hoặc làm kỹ để chốt, và vì thế hai cuốn sách đặt nhịp làm bản mẫu ở hai chỗ khác nhau

Nhịp làm bản mẫu và nhịp đem đi thử có hai cách làm rất khác nhau, mà lớp này gọi theo đúng việc nó làm: làm rẻ để học và làm kỹ để chốt.

Làm rẻ để học nghĩa là làm nhanh, tốn ít tiền, và sai thì vứt đi không tiếc. Một bản mẫu làm rẻ để học có thể là một khay gấp bằng bìa cứng trong nửa giờ. Một lần thử làm rẻ để học là đưa bản mẫu bìa ấy cho vài người dùng thật cầm thử, và ngồi xem họ làm gì với nó.

Làm kỹ để chốt nghĩa là làm chậm, tốn nhiều tiền, có hồ sơ, và kết quả của nó được dùng để quyết có bỏ tiền tiếp hay không. Một bản mẫu làm kỹ để chốt là mẫu kỹ thuật làm bằng đúng vật liệu, đúng cách gia công. Một lần thử làm kỹ để chốt là phép thử theo bản yêu cầu, hoặc thử với người dùng trên số lượng đủ để tin.

Hai cách này gỡ một chỗ người đọc hai cuốn sách của MES LAB sẽ thấy lệch nhau. Sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường gói cả năm nhịp vào ba chặng đầu, và nói làm bản mẫu và đem đi thử ở đây còn nhẹ. Sách giáo trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm bản 2026 thì đặt làm bản mẫu vào chặng làm ra mẫu chạy được, và đặt đem đi thử vào chặng kiểm chứng.

Hai sách không mâu thuẫn. Sách thứ nhất đang nói về việc làm rẻ để học, sách thứ hai đang nói về việc làm kỹ để chốt. Cùng tên nhịp, nhưng là hai việc khác nhau, ở hai chặng khác nhau.

Câu hỏi để biết mình đang làm theo cách nào: bản mẫu này, hay lần thử này, nếu ra kết quả xấu thì vứt đi được không? Vứt được mà không ai xót thì đó là làm rẻ để học, và nó thuộc chặng tìm và chọn phương án. Vứt đi là mất một khoản tiền phải giải trình thì đó là làm kỹ để chốt, và nó thuộc chặng làm ra mẫu chạy được hoặc chặng kiểm chứng.

Lẫn hai cách thì hỏng theo hai hướng. Làm kỹ ở chỗ chỉ cần làm rẻ để học thì tốn tiền sớm, và đội ngại bỏ một phương án đã tốn tiền. Làm rẻ ở chỗ cần làm kỹ để chốt thì dự án đi tiếp trên một bằng chứng quá mỏng. Bài 3 của lớp này sẽ nói kỹ hậu quả của kiểu thứ hai. Còn làm bản mẫu thô tới mức nào là đủ thì sẽ được dạy ở lớp Làm bản mẫu để học, không phải để trình diễn, mã AD-03, khi lớp này mở.

Câu hỏi kết quả xấu thì vứt đi được không cho biết một bản mẫu hay một lần thử là làm rẻ để học hay làm kỹ để chốt, và nó thuộc chặng nào.Ô trên cùng, tô cam: kết quả xấu thì vứt đi được không, hỏi câu này với từng bản mẫu, từng lần thử. Hai nhánh. Làm rẻ để học: vứt được, không ai xót; làm nhanh, tốn ít tiền, ví dụ một khay gấp bằng bìa cứng trong nửa giờ; thuộc chặng chọn phương án. Làm kỹ để chốt: vứt đi là mất một khoản tiền phải giải trình; đúng vật liệu, đúng cách gia công, có hồ sơ; thuộc chặng làm mẫu và kiểm chứng. Lẫn hai cách thì hỏng theo hai hướng: làm kỹ ở chỗ chỉ cần làm rẻ thì tốn tiền sớm và đội ngại bỏ một phương án đã tốn tiền; làm rẻ ở chỗ cần làm kỹ thì dự án đi tiếp trên một bằng chứng quá mỏng. Kết quả xấu thì vứt đi được không? Hỏi câu này với từng bản mẫu, từng lần thử. Làm rẻ để học Vứt được, không ai xót. Làm nhanh, tốn ít tiền. Ví dụ:một khay gấp bằng bìa cứng trongnửa giờ. Thuộc chặng: Chọn phương án Làm kỹ để chốt Vứt đi là mất một khoản tiềnphải giải trình. Đúng vật liệu, đúng cách giacông, có hồ sơ. Thuộc chặng: Làm mẫu, Kiểm chứng Lẫn hai cách thì hỏng theo hai hướng Làm kỹ ở chỗ chỉ cần làm rẻ Tốn tiền sớm, và đội ngại bỏ mộtphương án đã tốn tiền. Làm rẻ ở chỗ cần làm kỹ Dự án đi tiếp trên một bằngchứng quá mỏng. Câu hỏi kết quả xấu thì vứt đi được không cho biết một bản mẫu hay một lần thử là làm rẻ để học hay làm kỹ để chốt, và nó thuộc chặng nào.Ô trên cùng, tô cam: kết quả xấu thì vứt đi được không, hỏi câu này với từng bản mẫu, từng lần thử. Hai nhánh. Làm rẻ để học: vứt được, không ai xót; làm nhanh, tốn ít tiền, ví dụ một khay gấp bằng bìa cứng trong nửa giờ; thuộc chặng chọn phương án. Làm kỹ để chốt: vứt đi là mất một khoản tiền phải giải trình; đúng vật liệu, đúng cách gia công, có hồ sơ; thuộc chặng làm mẫu và kiểm chứng. Lẫn hai cách thì hỏng theo hai hướng: làm kỹ ở chỗ chỉ cần làm rẻ thì tốn tiền sớm và đội ngại bỏ một phương án đã tốn tiền; làm rẻ ở chỗ cần làm kỹ thì dự án đi tiếp trên một bằng chứng quá mỏng. Kết quả xấu thì vứt đi đượckhông? Hỏi câu này với từng bản mẫu,từng lần thử. Làm rẻ để học Vứt được, không ai xót. Làm nhanh, tốn ít tiền. Ví dụ:một khay gấp bằng bìa cứngtrong nửa giờ. Thuộc chặng: Chọn phương án Làm kỹ để chốt Vứt đi là mất một khoản tiềnphải giải trình. Đúng vật liệu, đúng cách giacông, có hồ sơ. Thuộc chặng: Làm mẫu, Kiểmchứng Lẫn hai cách thì hỏng theo haihướng Làm kỹ ở chỗ chỉ cần làm rẻ Tốn tiền sớm, và đội ngại bỏmột phương án đã tốn tiền. Làm rẻ ở chỗ cần làm kỹ Dự án đi tiếp trên một bằngchứng quá mỏng.
Hình 1. Hỏi kết quả xấu thì vứt đi được không để biết mình đang làm rẻ để học hay làm kỹ để chốt, và việc đó thuộc chặng nào.
4

Ở ba chặng sau cách nghĩ này mỏng dần, nhưng không biến mất

Từ chặng làm ra mẫu chạy được trở đi, câu hỏi chính đổi. Không còn là nên làm cái gì, mà là làm sao cho nó chạy được, bền, an toàn, đúng giá và nhà máy làm ra được. Ở những câu đó, cách nghĩ kỹ thuật thông thường dẫn đường. Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, ở bài 3 đã nói vì sao hai cách nghĩ không thay nhau được.

Nhưng cách nghĩ này vẫn còn lại ở ba chỗ, và cả ba đều đáng giữ.

Chỗ thứ nhất là khi một ràng buộc kỹ thuật buộc phải đổi một chi tiết mà người dùng chạm vào. Ví dụ xưởng báo một tay cầm phải dày thêm vì lý do khuôn. Lúc đó cần mang câu vấn đề đã viết ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ ra soi lại: thay đổi này có làm hỏng điều người dùng cần không. Đây là nhịp đặt lại vấn đề dùng như một phép kiểm, không phải để nghĩ lại từ đầu.

Chỗ thứ hai là nhịp đem đi thử ở chặng kiểm chứng. Ở đây nó đổi câu hỏi. Ở chặng đầu, câu hỏi là người dùng có thích không. Ở chặng kiểm chứng, theo sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường, câu hỏi là người dùng có chịu trả tiền thật không. Một lời khen không trả lời được câu thứ hai.

Chỗ thứ ba là sau khi hàng đã bán. Ở chặng đưa ra thị trường và đóng dự án, việc nghe người dùng thật dùng sản phẩm ra sao, phàn nàn chỗ nào, là nhịp hiểu người dùng của dự án sau. Ghi lại thì dự án sau bắt đầu từ bằng chứng, không bắt đầu từ trí nhớ.

Đây là quan điểm riêng của chúng tôi, không phải điều cả ngành đã thống nhất: cách nhìn hữu ích nhất là coi cách nghĩ này như một độ dày thay đổi dọc con đường, chứ không như một chặng có điểm đầu và điểm cuối. Dày nhất ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, mỏng nhất ở giữa chặng làm ra mẫu chạy được, rồi dày lên một chút ở cuối đường. Bài 5 của lớp này sẽ nói độ dày ấy đổi thế nào theo loại dự án và theo ngành.

Tư duy thiết kế như một độ dày dọc sáu chặng: dày nhất ở chặng tìm hiểu người dùng, mỏng nhất ở chặng làm mẫu, rồi dày lên một chút ở cuối đường.Sáu hàng, mỗi hàng một chặng, có một thanh ngang càng dài thì cách nghĩ này càng dày. Chặng 1, thăm dò: thanh ngắn, rẻ để học, nhịp hiểu người dùng ở mức đủ để biết nỗi khó có thật. Chặng 2, tìm hiểu người dùng: thanh dài nhất, tô cam, rẻ để học, nhịp hiểu người dùng rồi đặt lại vấn đề. Chặng 3, chọn phương án: thanh dài, rẻ để học, nghĩ ra ý, làm bản mẫu, đem đi thử. Chặng 4, làm mẫu: thanh ngắn nhất, kỹ để chốt, đặt lại vấn đề dùng như phép kiểm khi buộc phải đổi chi tiết người dùng chạm vào. Chặng 5, kiểm chứng: thanh ngắn, kỹ để chốt, đem đi thử với người dùng thật. Chặng 6, ra thị trường: thanh ngắn, rẻ để học, hiểu người dùng của dự án sau. SÁU CHẶNG cách nghĩ này dày ở đầu, mỏng ở cuối độ dày nhịp làm việc chính 1 Thăm dò rẻ, để học hiểu người dùng, ở mức đủ để biếtnỗi khó có thật 2 Tìm hiểu ngườidùng rẻ, để học hiểu người dùng, rồi đặt lại vấnđề 3 Chọn phương án rẻ, để học nghĩ ra ý, làm bản mẫu, đem đi thử 4 Làm mẫu kỹ, để chốt đặt lại vấn đề, dùng như phép kiểmkhi buộc phải đổi chi tiết ngườidùng chạm vào 5 Kiểm chứng kỹ, để chốt đem đi thử với người dùng thật 6 Ra thị trường rẻ, để học hiểu người dùng của dự án sau Thanh càng dài, cách nghĩ này càng dày ở chặng đó. Tư duy thiết kế như một độ dày dọc sáu chặng: dày nhất ở chặng tìm hiểu người dùng, mỏng nhất ở chặng làm mẫu, rồi dày lên một chút ở cuối đường.Sáu hàng, mỗi hàng một chặng, có một thanh ngang càng dài thì cách nghĩ này càng dày. Chặng 1, thăm dò: thanh ngắn, rẻ để học, nhịp hiểu người dùng ở mức đủ để biết nỗi khó có thật. Chặng 2, tìm hiểu người dùng: thanh dài nhất, tô cam, rẻ để học, nhịp hiểu người dùng rồi đặt lại vấn đề. Chặng 3, chọn phương án: thanh dài, rẻ để học, nghĩ ra ý, làm bản mẫu, đem đi thử. Chặng 4, làm mẫu: thanh ngắn nhất, kỹ để chốt, đặt lại vấn đề dùng như phép kiểm khi buộc phải đổi chi tiết người dùng chạm vào. Chặng 5, kiểm chứng: thanh ngắn, kỹ để chốt, đem đi thử với người dùng thật. Chặng 6, ra thị trường: thanh ngắn, rẻ để học, hiểu người dùng của dự án sau. SÁU CHẶNG cách nghĩ này dày ở đầu, mỏng ởcuối 1 Thăm dò rẻ, để học hiểu người dùng, ở mức đủ để biếtnỗi khó có thật 2 Tìm hiểu người dùng rẻ, để học hiểu người dùng, rồi đặt lại vấn đề 3 Chọn phương án rẻ, để học nghĩ ra ý, làm bản mẫu, đem đi thử 4 Làm mẫu kỹ, để chốt đặt lại vấn đề, dùng như phép kiểmkhi buộc phải đổi chi tiết ngườidùng chạm vào 5 Kiểm chứng kỹ, để chốt đem đi thử với người dùng thật 6 Ra thị trường rẻ, để học hiểu người dùng của dự án sau Thanh càng dài, cách nghĩ này càngdày ở chặng đó.
Hình 2. Cách nghĩ này dày nhất ở chặng tìm hiểu người dùng, mỏng nhất ở chặng làm mẫu, rồi dày lên một chút ở cuối đường.

Bảng tổng hợp năm nhịp trên sáu chặng

ChặngNhịp làm việc chínhLàm rẻ để học hay làm kỹ để chốtThứ cách nghĩ này phải để lại
Thăm dòhiểu người dùng, ở mức đủ để biết nỗi khó có thậtrẻ, để họcdấu hiệu ban đầu cho thấy nỗi khó không phải do đội tưởng ra
Tìm hiểu người dùng tại chỗhiểu người dùng, rồi đặt lại vấn đềrẻ, để họccâu vấn đề, mỗi vế dựa trên điều thấy tận nơi
Tìm và chọn phương ánnghĩ ra ý, làm bản mẫu, đem đi thửrẻ, để họccác hướng đã thử và lý do chọn, lý do loại
Làm ra mẫu chạy đượcđặt lại vấn đề, dùng như phép kiểm khi buộc phải đổi chi tiết người dùng chạm vàokỹ, để chốt ở bản mẫughi chép mỗi lần đổi có soi lại câu vấn đề
Kiểm chứngđem đi thử với người dùng thậtkỹ, để chốtkết quả thử, gồm cả việc người dùng có chịu trả tiền không
Đưa ra thị trường và đóng dự ánhiểu người dùng của dự án saurẻ, để họcghi chép phàn nàn và cách dùng thật

Đọc bảng theo cột thứ hai từ trên xuống, bạn sẽ thấy hình dạng của cả bài: ba chặng đầu kín việc, ba chặng sau mỗi chặng chỉ còn một việc. Đọc theo cột thứ ba, bạn thấy việc làm rẻ để học nằm ở đầu, việc làm kỹ để chốt nằm ở giữa và gần cuối.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Coi năm nhịp là năm chặng mới chèn vào quy trình. Có công ty vẽ lại quy trình thành năm chặng mang tên năm nhịp, rồi đặt sáu chặng cũ ở sau. Dự án thành mười một chặng, và đội phải làm hai lần cùng một việc dưới hai cái tên. Người ta làm vậy vì muốn cách nghĩ mới có chỗ đứng rõ ràng. Hậu quả rơi vào đội dự án: thêm hồ sơ, thêm cổng, mà không thêm hiểu biết. Cách tránh là đặt nhịp vào bên trong các chặng đã có, như bảng tổng hợp ở trên.

Gói cả cách nghĩ vào một chặng ở đầu rồi coi như xong. Đội làm rất kỹ ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, viết câu vấn đề đẹp, rồi từ chặng làm ra mẫu chạy được trở đi không ai mở câu đó ra nữa. Người ta sai vì đọc chữ tư duy thiết kế dừng lại khi người dùng gật đầu thành ra không cần nó nữa. Hậu quả rơi vào người dùng cuối: những thay đổi nhỏ vì lý do kỹ thuật cộng dồn lại, và sản phẩm ra đời lệch khỏi điều họ cần mà không ai thấy lúc nào lệch. Cách tránh là giữ ba chỗ ở mục 4, nhất là phép soi lại câu vấn đề mỗi khi đổi một chi tiết người dùng chạm vào.

Thấy chữ làm bản mẫu ở hai chặng rồi tưởng là trùng việc. Người quản lý dự án thấy chặng tìm và chọn phương án có làm bản mẫu, chặng làm ra mẫu chạy được cũng có, nên cắt một chỗ cho gọn. Thường chỗ bị cắt là lần làm rẻ để học, vì nó trông như việc vặt. Hậu quả rơi vào ngân sách: phương án được chọn mà chưa ai cầm thử, và lần đầu người ta cầm vào nó là lúc đã có mẫu kỹ thuật đắt tiền. Cách tránh là ghi rõ trong kế hoạch từng lần làm bản mẫu là làm rẻ để học hay làm kỹ để chốt, và hỏi câu vứt đi được không ở mục 3.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Tranh vẽ: trên bàn xưởng, một người thử gấp khay bằng bìa cứng dán băng dính vào ngăn kéo; thùng rác bên cạnh có mấy bản bìa đã vo lại; một người ngồi đối diện ghi chép.
Hình 3. Làm rẻ để học: bản mẫu bằng bìa và băng dính, sai thì vứt đi không tiếc, để học điều cần biết trước khi làm kỹ.

Ví dụ dưới đây là ca thật, có trên trang lịch sử của quỹ mang tên người sáng lập hãng Dyson, bạn tra lại được.

Cuối những năm bảy mươi của thế kỉ hai mươi, James Dyson thấy chiếc máy hút bụi có túi của mình hút yếu dần. Mở túi ra, ông thấy bụi mịn bịt kín các lỗ nhỏ của túi. Chỗ hỏng không nằm ở động cơ, mà ở chính cái túi. Đề bài được đặt lại: làm một máy hút bụi không cần túi. Ông từng thấy một xưởng cưa dùng tháp xoáy để tách mùn cưa khỏi không khí, nên làm thử một tháp xoáy nhỏ bằng bìa cứng và băng dính, gắn vào chiếc máy đã bỏ túi. Nó hút được.

Nhìn theo bài này: mở túi ra xem là nhịp hiểu người dùng, ở đây người dùng chính là người làm. Đề bài không cần túi là nhịp đặt lại vấn đề. Tháp xoáy bằng bìa là bản mẫu làm rẻ để học. Còn để có một chiếc máy bán được thì phải qua năm năm làm mẫu, với 5.127 bản mẫu theo con số hãng công bố, rồi tới năm 1993 mới sản xuất. Phần đó là làm kỹ để chốt, ở các chặng sau.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, bài 2 — nói vì sao năm nhịp không phải năm bước làm đủ là xong. Nên đọc lại trước khi đặt năm nhịp lên sáu chặng.

Lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03, bài 1 và bài 2 — nói mỗi chặng trong sáu chặng làm gì bên trong.

Bài 2 của chính lớp này — nói cụ thể từng chặng trong ba chặng đầu phải giao lại những gì.

Bên ngoài

"Change by Design", Tim Brown — người đứng đầu hãng thiết kế IDEO viết về tư duy thiết kế cho người làm kinh doanh, có phần nói cách nghĩ này đi cùng việc đưa sản phẩm ra thị trường.

"Product Design and Development", Karl Ulrich và Steven Eppinger — sách giáo trình trình bày các chặng phát triển sản phẩm, đọc để thấy các nhịp của bài này rơi vào chỗ nào trong một khung đã thành chuẩn giảng dạy.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook