m.school › Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm › bài 2
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Bạn muốn biết một thứ để lại của chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ đã đạt hay chưa. Theo bài, cách kiểm nhanh là gì?
Đưa thứ để lại cho một đồng nghiệp không dự buổi nào và hỏi hai câu: chặng này đã tìm ra điều gì, và dựa vào đâu. Họ phải gọi điện hỏi đội thì thứ để lại chưa đạt. Xem mục 1.
Câu 2. Trang tóm tắt của chặng thăm dò nói rõ nỗi khó, ai gặp, thấy ở đâu và bao nhiêu lần. Theo bài, trang này còn thiếu phần nào, phần hay bị bỏ nhất mà lại có ích nhất?
Câu thứ tư, điều gì còn chưa biết, cho người làm chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ biết phải đi tìm cái gì thay vì bắt đầu lại từ đầu. Số liệu thị trường thì nói về thị trường, không nói về nỗi khó. Xem mục 2.
Câu 3. Một đội viết câu vấn đề: người nội trợ bận cần một bộ hộp có nhãn ngày để không phí đồ ăn. Theo bài, câu này sai ở đâu?
Luật của câu vấn đề là không được chứa sẵn giải pháp. Nhắc tới bộ hộp có nhãn ngày là đã chọn giải pháp rồi. Xem mục 3.
Câu 4. Hồ sơ chặng tìm và chọn phương án của một dự án chỉ có một bản phác phương án thắng, vẽ rất đẹp. Theo bài, hồ sơ này còn thiếu gì?
Thứ để lại đủ của chặng này có ba phần: phương án được chọn kèm lý do, các hướng đã loại mỗi hướng một dòng lý do, và kết quả các lần thử làm rẻ để học. Chỉ có hướng thắng là thiếu. Xem mục 4.
Câu 5. Kế hoạch dự án ghi: đã tổ chức buổi nghĩ ý, thu được ba mươi ý. Đội coi dòng đó là thứ để lại của chặng. Theo bài, chuyện gì hay xảy ra ở cổng sau chặng đó?
Số ý đếm được nên người ta hay coi nó là kết quả. Cổng thấy nhiều ý nhưng không thấy lý do chọn, nên hoặc cho qua bằng cảm tính, hoặc bắt làm lại mà không biết làm lại chỗ nào. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy hồ sơ đầu dự án của một sản phẩm mà công ty bạn đã qua chặng tìm và chọn phương án. Gom mọi thứ được coi là kết quả của ba chặng đầu: tệp, ảnh, biên bản, bản phác. Xếp chúng vào ba hàng của bảng tổng hợp. Với mỗi hàng, đánh dấu những phần còn thiếu theo cột phải đi kèm. Rồi chọn một đồng nghiệp không dự các buổi đầu dự án, đưa họ đúng những gì bạn vừa gom, không nói thêm gì, và hỏi họ hai câu ở mục 1. Ghi nguyên văn câu trả lời.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, bạn tìm được một câu vấn đề viết ra, hoặc ghi rõ là không có. Hai, bạn đếm được số hướng đã bị loại có ghi lý do. Ba, câu trả lời của đồng nghiệp được ghi nguyên văn, kể cả khi nó sai.
Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, bạn tự giải thích thêm cho đồng nghiệp trong lúc họ đọc. Hai, bạn coi một bản vẽ phương án là đủ cho cả hàng thứ ba. Ba, cả ba hàng đều được bạn chấm là đủ ngay lần đầu.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: một dòng nồi chiên không dầu cỡ nhỏ. Thăm dò: có một bảng tổng hợp phản hồi của người bán hàng, không có điều còn chưa biết. Tìm hiểu người dùng tại chỗ: có hai mươi ảnh bếp nhà người dùng, không chú thích, không có câu vấn đề. Tìm và chọn phương án: có bản phác phương án thắng, không có hướng bị loại. Đồng nghiệp đọc xong trả lời rằng dự án nhắm tới gia đình đông người, trong khi đội nhắm tới người sống một mình. Kết luận: hàng thứ hai chưa đạt. Việc đầu tiên là viết câu vấn đề từ hai mươi ảnh kia, trước khi đi tiếp.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 đã đặt năm nhịp lên sáu chặng và cho thấy cách nghĩ này dày nhất ở ba chặng đầu. Bài này đi tiếp một bước: ở ba chặng ấy, khi một nhịp làm xong, nó phải để lại cái gì. Bài không dạy cách làm từng nhịp, phần đó sẽ có ở lớp Các nhịp của tư duy thiết kế, làm từng nhịp ra sao, mã DM-02, khi lớp này mở.
Ba chặng đầu là thăm dò, tìm hiểu người dùng tại chỗ, và tìm và chọn phương án. Cách nghĩ này có tác dụng nhất ở đây vì một lý do đơn giản: ở đây đổi hướng còn rẻ. Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, ở bài 2 đã nói càng đi về sau mỗi lần sửa càng đắt. Ở ba chặng đầu, thứ phải sửa còn là chữ, là giấy, là mẫu bìa. Sang chặng làm ra mẫu chạy được và các chặng sau nó, thứ phải sửa là bản vẽ kỹ thuật, là khuôn, là đơn đặt vật tư.
Nhưng có một điều kiện. Một đội có thể làm rất tốt nhịp hiểu người dùng, đi quan sát nhiều ngày, hiểu người dùng rất sâu, mà dự án vẫn không được lợi gì. Lý do là hiểu biết ấy chỉ nằm trong đầu mấy người đã đi. Chặng sau do người khác làm, hoặc làm sau ba tháng, và lúc đó chính người đã đi quan sát cũng không còn nhớ rõ.
Vì vậy bài này dùng một khái niệm: thứ để lại (deliverable). Thứ để lại là một thứ mở ra đọc được hoặc nhìn được, có ghi nguồn, và người không dự buổi làm việc vẫn hiểu và dùng được. Nó có thể là một trang chữ, một bảng, một tập ảnh có chú thích, một mẫu bìa có ghi kết quả thử. Nó không phải là một cuộc họp đã diễn ra, một cảm giác chung của đội, hay một bức tường giấy nhớ chưa ai chép lại.
Có một cách kiểm nhanh cho mọi thứ để lại: đưa nó cho một người không dự buổi nào và hỏi hai câu. Người đó là một đồng nghiệp trong công ty, không dự buổi nào của chặng ấy. Hai câu hỏi là: chặng này đã tìm ra điều gì, và dựa vào đâu. Nếu họ trả lời được mà không cần hỏi lại đội, thứ để lại đạt. Nếu họ phải gọi điện hỏi, thì phần quan trọng nhất của chặng vẫn còn nằm trong đầu người.
Cách kiểm này quan trọng vì cổng duyệt ở cuối mỗi chặng đọc chính thứ để lại. Cổng không đọc được những gì đội nhớ. Cách một cổng đọc những thứ này sẽ là chủ đề của bài 4.
Chặng thăm dò trả lời câu việc này có đáng làm, và có nên làm lúc này không. Nhịp hiểu người dùng ở đây chỉ làm rẻ để học. Việc của nó không phải hiểu sâu, mà là kiểm một điều: nỗi khó mà ý tưởng định giải có thật hay không, và có ở nhiều người hay chỉ ở một người.
Thứ để lại của nhịp này ở chặng thăm dò nên gọn trong một trang. Trang đó trả lời bốn câu. Nỗi khó là gì, viết bằng chữ của người gặp nó. Ai gặp, nói theo nhóm người, không theo một cái tên. Thấy ở đâu và thấy bao nhiêu lần, ví dụ đã ghé năm nhà thì ba nhà có. Và điều gì còn chưa biết, mà chặng sau phải đi tìm.
Câu thứ tư hay bị bỏ nhất, mà lại có ích nhất. Nó cho người làm chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ biết phải đi tìm cái gì, thay vì bắt đầu lại từ đầu.
Cũng cần nói cái gì không đủ làm bằng chứng ở đây. Một câu chuyện của sếp về một người quen than phiền thì chưa đủ. Một bài báo nói thị trường đang lớn cũng chưa đủ, vì nó nói về thị trường chứ không nói về nỗi khó. Một bảng khảo sát hỏi người ta có muốn sản phẩm này không thì càng không đủ. Lớp Làm sao biết người ta thật sự cần gì, mã NC-01, đã giải thích vì sao câu hỏi kiểu đó cho câu trả lời sai.
Nếu sau thăm dò mà nỗi khó không có thật, thì chặng này đã làm đúng việc của nó. Dừng ở đây là rẻ nhất.
Đây là chặng mà nhịp hiểu người dùng và nhịp đặt lại vấn đề làm việc chính. Thứ để lại quan trọng nhất của nó là một câu vấn đề (problem statement), có khi được gọi là câu điểm nhìn (point of view). Đó là một câu nói ai đang gặp khó, họ cần làm được việc gì, và vì sao việc đó quan trọng với họ.
Sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường có một câu vấn đề mẫu, dựng ra để minh hoạ chứ không phải ca thật: người nội trợ bận cần một cách nhận ra ngay đồ ăn nào cần dùng trước, để không phí đồ ăn và không mất thời gian lục tủ lạnh. Câu ấy có người, có việc cần làm, có lý do. Và nó không nhắc tới hộp, khay hay nhãn nào cả.
Điểm cuối cùng đó là một luật: câu vấn đề không được chứa sẵn giải pháp. Câu người nội trợ cần một bộ hộp có nhãn ngày thì đã chọn giải pháp rồi, và chặng tìm và chọn phương án chỉ còn việc vẽ cái hộp.
Một câu vấn đề đứng một mình thì chưa đủ. Nó phải có hai thứ đi kèm.
Thứ đi kèm đầu tiên là bằng chứng hiện trường cho từng vế của câu. Mỗi vế phải chỉ được về ít nhất một quan sát có ghi ai, ở đâu, thấy gì. Vế không lần được về quan sát nào là vế đội tự nghĩ ra, và nên ghi rõ như vậy.
Thứ đi kèm thứ hai là danh sách giả định còn chưa kiểm. Đội nào cũng phải tin một vài điều mà chưa kịp kiểm. Ghi chúng ra thì người làm chặng sau biết điều nào chưa chắc chắn, để kiểm trước khi dựa vào.
Có hai chỗ bài này cố ý không dạy: cách viết một câu vấn đề cho tốt, và cách chuyển câu vấn đề thành một bản yêu cầu có con số. Cả hai thuộc các lớp sau của bộ môn. Bài 5 của lớp này sẽ chỉ rõ từng lớp.
Ở chặng này nhịp nghĩ ra ý mở rộng ra nhiều hướng, rồi nhịp làm bản mẫu cùng nhịp đem đi thử, làm rẻ để học, giúp thu về một hướng. Phần lớn đội chỉ để lại hướng thắng: một bản phác, một bản mô tả phương án. Như vậy là thiếu.
Thứ để lại đủ của chặng này có ba phần. Phần một là phương án được chọn, kèm câu nó trả lời câu vấn đề ở chặng trước ra sao. Phần hai là các hướng đã bị loại, mỗi hướng một dòng lý do. Phần ba là kết quả của những lần thử làm rẻ để học: ai đã cầm mẫu, họ làm gì với nó, điều gì làm đội đổi ý.
Phần hai là phần hay bị bỏ, mà về sau lại là phần giúp đội tiết kiệm thời gian nhiều nhất. Khi chặng làm ra mẫu chạy được gặp khó và phải bỏ một chi tiết, câu hỏi đầu tiên luôn là sao hồi đó không chọn hướng kia. Có sẵn lý do loại thì đội đọc lại trong năm phút. Không có thì đội cãi lại từ đầu, và thường cãi bằng trí nhớ.
Cuốn giáo trình bản 2026 của MES LAB có một phép kiểm cho phần này. Hãy so ý cuối cùng được chọn với ý mà đội đã có trong đầu trước khi bắt đầu nghĩ ý. Nếu hai ý gần như là một, đội đã chốt trước khi mở đủ rộng, và các hướng bị loại chỉ là để cho đủ.
Một bối cảnh hay gặp ở Việt Nam, không phải ca của một công ty cụ thể nào: ở nhiều công ty đồ gia dụng, hồ sơ đầu dự án gồm một tập ảnh chụp bức tường giấy nhớ và một bản vẽ phương án thắng. Ảnh chụp không có chú thích, chữ trên giấy nhớ viết tắt, người viết đã chuyển sang việc khác. Hồ sơ ấy có đủ số trang, nhưng đưa cho một người không dự buổi nào thì họ không trả lời được hai câu ở mục 1.
| Chặng | Thứ để lại chính | Phải đi kèm | Dấu hiệu chưa đủ |
|---|---|---|---|
| Thăm dò | một trang nói nỗi khó có thật | ai gặp, thấy ở đâu, bao nhiêu lần, điều còn chưa biết | chỉ có câu chuyện của một người, hoặc chỉ có số liệu thị trường |
| Tìm hiểu người dùng tại chỗ | một câu vấn đề không chứa sẵn giải pháp | bằng chứng hiện trường cho từng vế, danh sách giả định chưa kiểm | câu có tên một giải pháp; vế không lần được về quan sát nào |
| Tìm và chọn phương án | phương án được chọn và lý do | các hướng đã loại kèm lý do, kết quả các lần thử làm rẻ để học | chỉ có hướng thắng; ý cuối gần như ý ban đầu |
| Cả ba chặng | thứ mở ra đọc được, có nguồn | người không dự buổi nào đọc xong trả lời được hai câu ở mục 1 | người không dự phải gọi điện hỏi đội |
Cột cuối là cột nên dùng khi soát một dự án đang chạy. Nó cho bạn biết chặng nào đã xong trên giấy mà chưa xong thật.
Làm kỹ nhịp hiểu người dùng mà không viết ra câu vấn đề. Đội đi quan sát nhiều buổi, ghi chép dày, rồi chuyển thẳng sang nghĩ ý. Người ta làm vậy vì quan sát thì thú vị và thấy rõ là đang làm việc, còn viết một câu vấn đề thì khó và dễ bị cãi. Hậu quả rơi vào chặng tìm và chọn phương án: mỗi người nghĩ ý cho một vấn đề hơi khác nhau trong đầu mình, và buổi chọn phương án thành buổi tranh luận xem vấn đề là gì. Cách tránh là không cho chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ kết thúc khi chưa có câu vấn đề viết ra và được đội đọc to lên một lần.
Để lại ảnh và giấy nhớ mà không ai đọc lại được. Buổi làm việc kết thúc bằng việc chụp ảnh bức tường. Người ta làm vậy vì chụp thì nhanh, còn chép lại và chú thích thì mất cả buổi chiều. Hậu quả rơi vào người làm chặng sau, và rơi nặng nhất khi người giữ hiểu biết đổi việc. Cách tránh là dành thời gian chép lại ngay trong ngày, mỗi ảnh một dòng chú thích nói nó chứng minh điều gì, rồi đưa cho một người không dự buổi nào đọc và hỏi hai câu ở mục 1.
Coi buổi nghĩ ý là thứ để lại. Kế hoạch ghi đã tổ chức buổi nghĩ ý, có ba mươi ý. Người ta coi số ý là kết quả vì nó đếm được. Hậu quả rơi vào cổng sau chặng tìm và chọn phương án: cổng thấy nhiều ý nhưng không thấy vì sao chọn ý này, nên hoặc cho qua bằng cảm tính, hoặc bắt làm lại mà không biết làm lại chỗ nào. Cách tránh là chỉ tính thứ để lại theo ba phần ở mục 4.
Ví dụ dưới đây lấy từ trang công khai của chính hãng, bạn tra được trên trang thiết kế của IBM.
IBM là hãng công nghệ có rất nhiều đội làm sản phẩm, ở nhiều nơi. Hãng đặt ra một bộ khung riêng để dùng tư duy thiết kế, và trang của hãng ghi rằng bộ khung này nhằm mở rộng cách nghĩ ấy cho các đội ở mọi cỡ, kể cả đội ngồi xa nhau. Bộ khung có ba thói quen chính. Một là câu mục tiêu, hãng gọi là Hills: những câu ngắn nói người dùng sẽ làm được điều gì. Hai là những buổi trình lại định kỳ, nơi người dùng, những người có liên quan và đội cùng ngồi kể lại và góp ý. Ba là người dùng đồng hành: người dùng thật, mang tới cho đội hiểu biết sâu về chính vấn đề họ đang gặp.
Nhìn theo bài này: câu mục tiêu là một thứ để lại viết thành chữ, nhiều đội cùng đọc được. Người dùng đồng hành giúp hiểu biết về người dùng không chỉ nằm trong đầu mấy người đã đi quan sát.
Của MES LAB
Bài 1 của lớp này — đặt năm nhịp lên sáu chặng, và giải thích khi nào một nhịp làm rẻ để học, khi nào làm kỹ để chốt.
Bài 4 của lớp này — cổng duyệt đọc những thứ để lại của bài này ra sao, và lối làm lại của cổng trỏ về đâu.
Bên ngoài
Trang Enterprise Design Thinking của IBM, trên ibm.com — mô tả câu mục tiêu, buổi trình lại định kỳ và người dùng đồng hành bằng chính lời của hãng.
"The Field Guide to Human-Centered Design", IDEO.org — sổ tay về thiết kế lấy con người làm gốc, có phần về cách gom điều quan sát được thành những câu có thể dùng tiếp.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.