m.school › Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm › bài 4

Bài 4 · Tư duy thiết kế đi cùng cổng duyệt thế nào: cổng đọc gì, và vòng lặp chạy ở đâu

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 138 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ nói được một cổng duyệt cần thấy gì từ phần việc theo tư duy thiết kế để chọn một trong bốn lối ra. Xếp được các bằng chứng không đo bằng số, như ảnh hiện trường, câu người dùng nói, kết quả một lần thử bằng mẫu thô, vào đúng chỗ trong hồ sơ trình cổng. Chỉ ra được ai có quyền mở lại câu vấn đề sau khi cổng đã cho đi tiếp, và mở lại bằng cách nào.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Hai đội cùng trình cổng. Đội thứ nhất chạy năm vòng thử mà câu vấn đề không đổi chữ nào. Đội thứ hai chạy hai vòng và đã loại được một hướng sai. Theo bài, cổng nên nhìn hai đội thế nào?

  2. Câu 2. Đội trình cổng một tập ảnh chụp ở ruộng và nhà kho của nông dân. Người duyệt quen đọc bảng giá thành, lật vài trang rồi hỏi số đâu. Theo bài, cách gỡ đúng là gì?

  3. Câu 3. Ở cổng sau chặng tìm và chọn phương án, người duyệt thấy các ý đều mờ, không ý nào trả lời rõ nỗi khó. Theo bài, lối làm lại nên trỏ về đâu?

  4. Câu 4. Ở chặng kiểm chứng, một kỹ sư thấy người dùng thật dùng mẫu theo một cách không ai lường trước, làm một vế của câu vấn đề lung lay. Theo bài, kỹ sư nên làm gì?

  5. Câu 5. Sau chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, đội thấy nỗi khó có thật nhưng quá ít người gặp, và cổng quyết dừng dự án. Theo bài, nên hiểu quyết định này thế nào?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Tìm hồ sơ của lần duyệt gần nhất ở công ty bạn sau một trong ba chặng đầu. Nếu công ty không có buổi duyệt chính thức, lấy biên bản của buổi họp đã quyết cho dự án đi tiếp. Đánh dấu trong hồ sơ ba thứ ở mục 2: câu vấn đề có bằng chứng, các hướng đã loại, các giả định chưa kiểm. Với mỗi bằng chứng định tính, kiểm xem nó có ghi ai, ở đâu, thấy gì không. Cuối cùng, viết một câu: nếu hôm nay có bằng chứng mới làm lung lay câu vấn đề, thì ai trong công ty là người quyết có mở lại không.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, chỉ ra được thứ nào trong ba thứ có mặt, thứ nào vắng. Hai, bạn đếm được bao nhiêu bằng chứng định tính ghi đủ ai, ở đâu, thấy gì. Ba, câu cuối nêu một chức danh cụ thể, hoặc ghi thẳng là không có ai.

Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, coi danh sách các buổi đã làm là một trong ba thứ. Hai, bạn bỏ qua các tấm ảnh vì chúng không phải số. Ba, câu cuối viết là cả đội cùng quyết.

Lời giải mẫu. Hồ sơ: biên bản họp quyết làm một dòng bình tưới cây cầm tay. Câu vấn đề: không có, chỉ có tên sản phẩm. Hướng đã loại: không ghi. Giả định chưa kiểm: không ghi. Bằng chứng định tính: mười hai ảnh, hai ảnh có ghi nơi chụp, không ảnh nào ghi đã thấy gì. Người có quyền mở lại: không ai được giao, mọi người đều sửa được. Kết luận: buổi họp ấy đã quyết khi thiếu cả ba thứ, và lần sau cần giao rõ một người giữ câu vấn đề.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bài 2 nói ba chặng đầu phải để lại thứ gì. Bài này đi tiếp tới chỗ thứ để lại ấy được đọc: cổng duyệt ở cuối mỗi chặng. Bài không dạy cách tổ chức một cổng, ai ngồi, tiêu chí từng cổng. Phần đó sẽ có ở lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, khi lớp này mở.

1

Cổng duyệt và vòng lặp không chống nhau, vì chúng làm hai việc khác nhau

Bắt đầu bằng hai định nghĩa. Cổng duyệt (stage gate) là điểm dừng giữa hai chặng, nơi một người có quyền xem bằng chứng và quyết có bỏ thêm tiền và công cho chặng sau hay không. Vòng lặp (iteration) là làm, thử, sửa, rồi làm lại, nhiều lần trong một chặng, để học nhanh khi còn nhiều thứ chưa biết.

Người mới đặt tư duy thiết kế vào một công ty có quy trình cổng thường gặp hai nỗi lo ngược nhau. Người làm theo cách nghĩ này lo cổng sẽ bắt chốt quá sớm, khi đội còn đang học. Người giữ cổng thì lo vòng lặp sẽ kéo dài mãi, không có ngày xong. Cả hai nỗi lo đều có thật, nhưng chúng chỉ đúng khi một bên làm việc của bên kia.

Vòng lặp làm việc học. Cổng làm việc quyết. Vòng lặp hỏi: lần thử này dạy mình điều gì. Cổng hỏi: với những gì đã biết, có nên bỏ thêm tiền không. Hai câu hỏi ấy không thay nhau được. Đội lặp mãi mà không ai quyết thì tiền vẫn chảy ra mà không ai chịu trách nhiệm. Cổng quyết mà không có gì học được trước đó thì quyết bằng cảm giác.

Lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03, ở bài 4 đã dạy cách ghép khung có cổng với các vòng lặp ngắn: cổng giữ những quyết định khó đảo ngược, vòng lặp chạy bên trong chặng và phải xong trước mốc của cổng kế tiếp. Bài này không giảng lại cách ghép ấy. Nó chỉ thêm một điều nhìn từ phía tư duy thiết kế.

Điều đó là: cổng không chấm vòng lặp đã chạy bao nhiêu lần, mà chấm điều đã học được qua các vòng ấy. Một đội chạy năm vòng mà câu vấn đề không đổi chữ nào, và một đội chạy hai vòng mà đã loại được một hướng sai, thì đội thứ hai mang tới cổng nhiều thứ hơn. Vì vậy hồ sơ trình cổng không nên có dòng đã làm bao nhiêu buổi. Nó nên có dòng đã học được gì, và học từ đâu.

Vòng lặp chạy bên trong một chặng để học, cổng đứng giữa hai chặng để quyết, và cổng chấm điều đã học được chứ không chấm số vòng.Một chặng chứa một vòng: làm, thử, sửa, làm lại. Mũi tên tới cổng, rồi tới chặng sau, nơi vòng lặp vẫn chạy. Vòng lặp làm việc học, hỏi lần thử này dạy mình điều gì. Cổng làm việc quyết, hỏi với những gì đã biết, có nên bỏ thêm tiền không. Ô tô cam: cổng chấm điều đã học được qua các vòng, không chấm vòng lặp đã chạy bao nhiêu lần. VÒNG LẶP VÀ CỔNG hai việc khác nhau Một chặng làm thử sửa làm lại Chặng sau làm thử sửa làm lại cổng Vòng lặp làm việc học Hỏi: lần thử này dạy mình điềugì? Cổng làm việc quyết Hỏi: với những gì đã biết, cónên bỏ thêm tiền không? Cổng chấm điều đã học được qua các vòng, không chấm vòng lặp đã chạy bao nhiêu lần. Vòng lặp chạy bên trong một chặng để học, cổng đứng giữa hai chặng để quyết, và cổng chấm điều đã học được chứ không chấm số vòng.Một chặng chứa một vòng: làm, thử, sửa, làm lại. Mũi tên tới cổng, rồi tới chặng sau, nơi vòng lặp vẫn chạy. Vòng lặp làm việc học, hỏi lần thử này dạy mình điều gì. Cổng làm việc quyết, hỏi với những gì đã biết, có nên bỏ thêm tiền không. Ô tô cam: cổng chấm điều đã học được qua các vòng, không chấm vòng lặp đã chạy bao nhiêu lần. VÒNG LẶP VÀ CỔNG hai việc khác nhau Một chặng làm thử sửa làm lại cổng Chặng sau: vòng lặp vẫn chạy Vòng lặp làm việc học Hỏi: lần thử này dạy mình điềugì? Cổng làm việc quyết Hỏi: với những gì đã biết, cónên bỏ thêm tiền không? Cổng chấm điều đã học được qua các vòng, không chấm vònglặp đã chạy bao nhiêu lần.
Hình 1. Vòng lặp chạy bên trong chặng để học, cổng đứng giữa hai chặng để quyết, và cổng chấm điều đã học được chứ không chấm số vòng.
2

Cổng đọc ba thứ: câu vấn đề có bằng chứng, những hướng đã thử và đã loại, và những giả định còn chưa kiểm

Phần việc theo tư duy thiết kế ở ba chặng đầu cho ra ba thứ mà một cổng cần đọc.

Thứ nhất là câu vấn đề, kèm bằng chứng cho từng vế. Đây là thứ để lại chính của chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, như bài 2 đã nói. Cổng đọc nó để hỏi: vế nào dựa trên điều đã thấy tận nơi, vế nào đội tự nghĩ ra.

Thứ hai là những hướng đã thử và đã loại, kèm lý do. Cổng đọc nó để biết đội đã mở đủ rộng chưa, hay chỉ có một hướng từ đầu.

Thứ ba là những giả định còn chưa kiểm. Cổng đọc nó để biết mình đang quyết trên nền nào, và giả định nào phải kiểm đầu tiên ở chặng sau.

Ở đây hay vướng một chỗ. Phần lớn bằng chứng của ba chặng đầu không đo bằng số: một tấm ảnh căn bếp, một câu người dùng nói, một lần người dùng cầm mẫu bìa rồi lật ngược nó. Loại bằng chứng này gọi là bằng chứng định tính (qualitative evidence). Người giữ cổng quen đọc bảng số thường không biết xếp nó vào đâu, và hay gạt đi.

Bằng chứng định tính vẫn là bằng chứng, nếu nó ghi được ba thứ: ai, ở đâu, thấy gì. Thêm một thứ thứ tư thì càng dễ đọc: thấy mấy lần, trên tổng số nơi đã ghé. Tấm ảnh không có ba dòng ấy chỉ là tấm ảnh.

Một bối cảnh hay gặp ở Việt Nam, dựng ra để minh hoạ, không lấy từ công ty nào: một công ty cơ khí nhỏ làm máy nông nghiệp tổ chức buổi duyệt cuối chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Đội trình một tập ảnh chụp ở ruộng và ở nhà kho của nông dân. Người duyệt quen đọc bảng giá thành, lật vài trang rồi hỏi số đâu. Cách gỡ không phải là bịa ra một con số. Cách gỡ là xếp mỗi tấm ảnh cạnh đúng vế câu vấn đề mà nó chứng minh, ghi ai, ở đâu, thấy gì, và ghi đã ghé bao nhiêu nơi, bao nhiêu nơi thấy điều đó.

Sách Phát triển sản phẩm hướng thị trường có một ý nên giữ: cổng chỉ cho đi tiếp khi đã đủ bằng chứng, không cho đi tiếp vì người có quyền đang sốt ruột. Người giữ cổng cũng thường là người không dự buổi nào của chặng ấy. Vì vậy cách kiểm ở bài 2, đưa thứ để lại cho một người không dự buổi nào và hỏi hai câu, chính là việc sẽ xảy ra thật ở cổng.

3

Bốn lối ra của cổng có nghĩa riêng khi thứ được đọc là phần việc theo tư duy thiết kế

Một cổng có bốn lối ra: đi tiếp, làm lại, treo, dừng. Lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03, ở bài 5 đã dạy lúc nào phải quay lại và quay về đâu. Ở đây chỉ nói mỗi lối có nghĩa gì khi thứ trình lên là phần việc của ba chặng đầu.

Đi tiếp nghĩa là câu vấn đề đủ vững để bỏ tiền tìm phương án, hoặc phương án đủ vững để bỏ tiền làm mẫu chạy được. Đi tiếp không có nghĩa mọi giả định đã được kiểm. Nó có nghĩa những giả định còn lại đã được ghi ra, và chặng sau biết phải kiểm cái nào trước.

Làm lại khi đầu vào là phần việc theo cách nghĩ này thường có nghĩa là quay về nhịp hiểu người dùng, không phải nghĩ thêm ý. Phần lớn lần cổng thấy hồ sơ yếu ở chặng tìm và chọn phương án, chỗ yếu thật nằm ở câu vấn đề: nó còn mờ, nên mọi ý đều mờ theo. Bắt đội nghĩ thêm mười ý trên một câu vấn đề mờ chỉ ra thêm mười ý mờ.

Treo nghĩa là chưa quyết được vì còn chờ một điều nằm ngoài đội, ví dụ một quy định sắp ban hành hay một nguồn vật liệu chưa chắc. Treo phải có ngày xem lại. Không có ngày xem lại thì dự án nằm đó mãi, rồi bị bỏ mà không ai nói ra.

Dừng sau chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ là một kết quả tốt, không phải thất bại. Sách giáo trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm bản 2026 của chúng tôi nói thẳng ý này khi bàn buổi quyết có bắt đầu dự án hay không. Nếu quan sát cho thấy nỗi khó không có thật, hoặc có thật nhưng quá ít người gặp, thì dừng ở đây là dừng ở chỗ rẻ nhất. Tiền đã chi chỉ là tiền đi quan sát và làm mẫu bìa. Cái được là không phải mở khuôn cho một sản phẩm không ai cần.

Một chỗ cần nhắc: cổng đi tiếp không xoá vòng lặp. Sang chặng sau, vòng lặp vẫn chạy, chỉ là chạy trên những câu hỏi mới.

4

Sau khi cổng đã cho đi tiếp, ai được mở lại câu vấn đề, và mở lại bằng cách nào

Câu vấn đề đã qua cổng là thứ cả dự án đứng trên. Nhưng nó không bất biến. Ở chặng làm ra mẫu chạy được hay chặng kiểm chứng, có thể xuất hiện một điều làm nó lung lay: người dùng thật dùng mẫu theo một cách không ai lường, hoặc một nhóm người dùng mới lộ ra.

Vậy ai được mở lại câu vấn đề? Bài này đề nghị một luật gồm hai vế.

Vế thứ nhất: chỉ mở lại khi có bằng chứng mới. Một ý kiến mới, kể cả của người có tiếng nói lớn trong công ty, chưa phải bằng chứng mới. Bằng chứng mới là một điều quan sát được, có ghi ai, ở đâu, thấy gì, mà lúc qua cổng chưa có. Lớp Tư duy thiết kế là gì, hiểu cho đúng trước khi dùng, mã DM-01, ở bài 3 đã nói cùng ý này: quay lại vì có bằng chứng mới, không phải vì có người đổi ý.

Vế thứ hai: mở lại đi qua người giữ cổng, không lặng lẽ sửa. Người phát hiện ra bằng chứng mới không tự viết lại câu vấn đề trong bản của mình. Họ mang bằng chứng tới người đã ký cho đi tiếp. Người đó quyết: sửa câu vấn đề và cho đi tiếp, hay quay về chặng trước.

Vì sao phải chặt như vậy? Vì câu vấn đề bị sửa lặng lẽ gây hỏng nhiều hơn câu vấn đề sai. Nếu một kỹ sư tự sửa trong đầu mình, phần còn lại của đội vẫn làm theo bản cũ. Các phần của sản phẩm sẽ trả lời hai câu vấn đề khác nhau, và chỗ vênh chỉ lộ ra khi ghép lại.

Mở lại cũng không có nghĩa là làm lại cả ba chặng đầu. Thường chỉ một vế của câu vấn đề bị lung lay. Đội sửa đúng vế ấy, ghi lại bằng chứng mới, rồi soát xem những quyết định nào ở các chặng sau đã dựa vào vế cũ.

Mở lại câu vấn đề sau khi cổng đã cho đi tiếp: chỉ khi có bằng chứng mới, và phải đi qua người đã ký cho đi tiếp.Ba bước. Một: có bằng chứng mới, tức một điều quan sát được, ghi ai, ở đâu, thấy gì, mà lúc qua cổng chưa có; bên cạnh, ô cảnh báo: một ý kiến mới, kể cả của người có tiếng nói lớn trong công ty, chưa phải bằng chứng mới. Hai, tô cam: mang tới người đã ký cho đi tiếp, không tự viết lại câu vấn đề trong bản của mình; bên cạnh, ô cảnh báo: sửa lặng lẽ thì phần còn lại của đội vẫn làm theo bản cũ, chỗ vênh chỉ lộ ra khi ghép lại. Ba: người đó quyết, sửa câu vấn đề và cho đi tiếp, hoặc quay về chặng trước. Ô cuối: mở lại không có nghĩa là làm lại cả ba chặng đầu; thường chỉ một vế bị lung lay, sửa đúng vế ấy, ghi lại bằng chứng mới, rồi soát những quyết định đã dựa vào vế cũ. MỞ LẠI CÂU VẤN ĐỀ sau khi cổng đã cho đi tiếp 1 Có bằng chứng mới Một điều quan sát được, ghi ai, ở đâu,thấy gì, mà lúc qua cổng chưa có. Chưa phải bằng chứngmới Một ý kiến mới, kể cả củangười có tiếng nói lớntrong công ty. 2 Mang tới người đã ký cho đitiếp Không tự viết lại câu vấn đề trong bảncủa mình. Sửa lặng lẽ Phần còn lại của đội vẫnlàm theo bản cũ. Chỗ vênhchỉ lộ ra khi ghép lại. 3 Người đó quyết Sửa câu vấn đề và cho đi tiếp, hoặc quay về chặng trước. Mở lại không có nghĩa là làm lại cả ba chặng đầu Thường chỉ một vế bị lung lay. Sửa đúng vế ấy, ghi lại bằng chứng mới,rồi soát những quyết định đã dựa vào vế cũ. Mở lại câu vấn đề sau khi cổng đã cho đi tiếp: chỉ khi có bằng chứng mới, và phải đi qua người đã ký cho đi tiếp.Ba bước. Một: có bằng chứng mới, tức một điều quan sát được, ghi ai, ở đâu, thấy gì, mà lúc qua cổng chưa có; bên cạnh, ô cảnh báo: một ý kiến mới, kể cả của người có tiếng nói lớn trong công ty, chưa phải bằng chứng mới. Hai, tô cam: mang tới người đã ký cho đi tiếp, không tự viết lại câu vấn đề trong bản của mình; bên cạnh, ô cảnh báo: sửa lặng lẽ thì phần còn lại của đội vẫn làm theo bản cũ, chỗ vênh chỉ lộ ra khi ghép lại. Ba: người đó quyết, sửa câu vấn đề và cho đi tiếp, hoặc quay về chặng trước. Ô cuối: mở lại không có nghĩa là làm lại cả ba chặng đầu; thường chỉ một vế bị lung lay, sửa đúng vế ấy, ghi lại bằng chứng mới, rồi soát những quyết định đã dựa vào vế cũ. MỞ LẠI CÂU VẤN ĐỀ sau khi cổng đã cho đi tiếp 1 Có bằng chứng mới Một điều quan sát được, ghi ai,ở đâu, thấy gì, mà lúc qua cổngchưa có. Chưa phải bằng chứng mới Một ý kiến mới, kể cả của ngườicó tiếng nói lớn trong công ty. 2 Mang tới người đã kýcho đi tiếp Không tự viết lại câu vấn đềtrong bản của mình. Sửa lặng lẽ Phần còn lại của đội vẫn làmtheo bản cũ. Chỗ vênh chỉ lộ rakhi ghép lại. 3 Người đó quyết Sửa câu vấn đề và cho đi tiếp, hoặc quay về chặng trước. Mở lại không có nghĩa làlàm lại cả ba chặng đầu Thường chỉ một vế bị lung lay.Sửa đúng vế ấy, ghi lại bằngchứng mới, rồi soát những quyếtđịnh đã dựa vào vế cũ.
Hình 2. Muốn sửa câu vấn đề sau cổng thì phải có một điều quan sát mới, mang nó tới người đã ký cho đi tiếp, và không ai tự sửa trong bản của mình.

Bảng tổng hợp cổng đọc gì ở ba chặng đầu

Cổng ở cuối chặngCổng cần đọc gì từ phần việc theo tư duy thiết kếLàm lại thường nghĩa là quay về đâuDừng ở đây nghĩa là gì
Thăm dòbằng chứng rằng nỗi khó là thật, ghi người gặp, nơi gặp, số lần gặp, và điều còn chưa biếtđi hỏi thêm vài nơi để biết nỗi khó có ở nhiều người khôngý tưởng chưa có nỗi khó thật nào đứng sau
Tìm hiểu người dùng tại chỗcâu vấn đề chưa gắn sẵn giải pháp nào, mỗi vế có điều quan sát đi kèm, và những giả định chưa kiểmquay về quan sát thêm, nhắm đúng vế còn thiếu bằng chứngnỗi khó có thật nhưng không đáng giải lúc này, một kết quả tốt
Tìm và chọn phương ánphương án đội chọn, những hướng bị gạt và vì sao gạt, điều học được từ các mẫu thôquay về nhịp hiểu người dùng nếu câu vấn đề còn mờ, chỉ nghĩ thêm ý khi câu vấn đề đã rõkhông phương án nào giải được câu vấn đề với cái giá chấp nhận được

Đọc bảng theo cột thứ ba: lối làm lại hầu như luôn trỏ về phía hiểu người dùng, ít khi trỏ về phía nghĩ thêm ý.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Bắt phần việc theo tư duy thiết kế nộp con số cho giống các chặng sau. Người giữ cổng quen đọc bảng số, nên đòi ba chặng đầu cũng có tỷ lệ, có điểm. Đội bèn chấm điểm các ý theo cảm giác rồi trình như số đo. Người ta làm vậy vì con số trông chắc chắn hơn tấm ảnh. Hậu quả rơi vào chặng sau: một quyết định lớn dựa trên con số không đo gì cả, mà không ai biết. Cách tránh là chấp nhận bằng chứng định tính, với điều kiện nó ghi ai, ở đâu, thấy gì, và thấy mấy lần.

Cho đi tiếp vì đội đã làm đủ năm nhịp. Hồ sơ trình cổng liệt kê đủ buổi quan sát, buổi nghĩ ý, bản mẫu, lần thử, và cổng cho qua. Người ta làm vậy vì đếm việc đã làm thì dễ hơn đọc điều đã học. Hậu quả rơi vào toàn dự án: cổng đã ký cho một câu vấn đề có thể chưa ai kiểm. Cách tránh là hỏi ba thứ ở mục 2, không hỏi số buổi.

Để vòng lặp kéo dài qua mốc cổng mà không ai quyết. Đội xin thêm một vòng, rồi thêm một vòng nữa, và mốc cổng trôi đi. Người ta làm vậy vì luôn còn thứ có thể học thêm, và vì không ai muốn là người nói đủ rồi. Hậu quả rơi vào ngân sách và lịch của cả dự án. Cách tránh là đặt mốc cổng từ đầu chặng. Tới mốc thì cổng họp, dù đội đã sẵn sàng hay chưa. Chưa đủ bằng chứng thì cổng chọn làm lại, có phạm vi và có hạn, chứ không để vòng lặp tự kéo dài.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là sổ tay làm dịch vụ công trên mạng của chính phủ Vương quốc Anh, đăng công khai trên trang gov.uk, mục Service Manual.

Trang về giai đoạn tìm hiểu (discovery) ghi: trước khi cam kết xây một dịch vụ, phải hiểu vấn đề cần giải; không được bắt đầu xây trong giai đoạn này; thời gian thường khoảng bốn tới tám tuần. Nếu đội nhận sẵn một giải pháp, đội phải viết lại nó thành một vấn đề cần giải. Trang cũng ghi rõ: dừng ở cuối giai đoạn tìm hiểu không phải thất bại, nếu nghiên cứu cho thấy đó là việc nên làm.

Trang về buổi đánh giá dịch vụ ghi: một hội đồng gồm cả người nghiên cứu người dùng xem xét dịch vụ theo bộ tiêu chuẩn chung, và xếp xanh, vàng hoặc đỏ. Xanh thì đi tiếp. Vàng thì đi tiếp, nhưng phải sửa trong khoảng ba tháng. Đỏ thì ở lại giai đoạn hiện tại cho tới khi sửa xong và được đánh giá lại.

Nhìn theo bài này: đây là một quy trình có cổng, mà cổng đọc cả phần hiểu người dùng, và coi dừng sớm là một lối ra chính đáng.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Lớp Các bước phát triển một sản phẩm mới, mã SP-03, bài 4 và bài 5 — cách ghép khung có cổng với vòng lặp ngắn, và lúc nào phải quay về chặng trước.

Bài 2 của lớp này — ba chặng đầu phải để lại những gì, tức là những thứ cổng sẽ đọc.

Bên ngoài

Service Manual của chính phủ Vương quốc Anh, trên gov.uk — hai trang ở phần ví dụ, và các trang về giai đoạn thử nghiệm sau giai đoạn tìm hiểu.

"Winning at New Products", Robert Cooper — sách của người đặt ra mô hình có cổng, đọc để hiểu cổng sinh ra để quyết việc gì.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook