m.school › Chuyển nhu cầu người dùng thành thông số kỹ thuật › bài 4
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một cột thông số có ô yếu, điểm 1, ở hàng nhu cầu có mức quan trọng 50, và ô mạnh, điểm 9, ở hàng nhu cầu có mức quan trọng 30. Các hàng khác để trống. Mức quan trọng kỹ thuật của cột là bao nhiêu?
Ở mỗi ô có dấu, nhân mức quan trọng của hàng với điểm của ô, rồi cộng lại: 50 nhân 1 cộng 30 nhân 9 bằng 320. Con số 480 là khi đảo hai điểm cho nhau, 800 là cộng trước rồi mới nhân, còn 10 là chỉ cộng điểm của ô (xem mục 1).
Câu 2. Tính xong, hai cột thông số được 31 phần trăm và 29 phần trăm. Đọc chỗ chênh này thế nào?
Mức quan trọng lấy từ một nhóm người dùng nhỏ, điểm ô là phán đoán, thang 9, 3, 1 là quy ước, nên chênh vài điểm thì coi như ngang. Muốn kiểm độ vững, thử đổi mức quan trọng của một hai nhu cầu một chút xem thứ tự có đảo không (xem mục 1).
Câu 3. Trên bảng của một chiếc ghế văn phòng, cột khối lượng ghế chỉ được 2 phần trăm, nhưng nhóm đang chọn khung nhôm đắt tiền chỉ để hạ khối lượng. Thông số này thuộc nhóm nào, và nên làm gì?
Cột điểm thấp mà đang tốn nhiều tiền để đạt là chỗ thừa. Đọc theo ba nhóm còn trả lời câu nên bớt ở đâu, và đó là chỗ lấy ra tiền cho cột đáng dồn sức (xem mục 2).
Câu 4. Tính xong mức quan trọng kỹ thuật, nhóm xếp cột theo điểm rồi cắt từ dưới lên. Cột cuối cùng là một thông số vé vào cửa. Vì sao cắt nó là sai?
Thông số vé vào cửa có thể có điểm rất thấp vì nó phục vụ một nhu cầu phải có mà người dùng chấm thấp. Điểm số không biết vai của thông số, không biết mái nhà và chi phí, nên dùng nó để mở cuộc bàn bạc, không dùng để kết thúc (xem mục 2 và phần Chỗ người ta hay làm sai).
Câu 5. Mái nhà cho thấy độ dày lớp đệm ngăn máy tính của một chiếc ba lô kéo ngược với khối lượng ba lô. Cách xử lý nào đúng?
Lấy trung bình thường làm cả hai thông số chỉ đạt một nửa, có khi cả hai rơi dưới mức chấp nhận được. Mỗi cặp kéo ngược phải có thông số ưu tiên ghi trước khi làm mẫu, căn cứ vào mức quan trọng của các nhu cầu và vai của hai thông số (xem mục 3 và lời giải mẫu).
Việc cần làm. Lấy bảng nhỏ bạn đã kẻ ở bài 2, với năm tới tám nhu cầu và năm tới tám thông số. Gắn mức quan trọng cho từng nhu cầu, lấy từ người dùng nếu có. Tính mức quan trọng kỹ thuật cho từng cột theo thang 9, 3, 1. Ghép với vai đã xếp ở bài 3 để chia ba nhóm. Rồi vẽ mái cho năm thông số có điểm cao nhất, và với mỗi cặp kéo ngược, viết một câu: thông số nào được ưu tiên, theo nhu cầu nào.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: tìm ra ít nhất một chỗ đang thừa để bớt; có ít nhất một cặp kéo ngược với thông số ưu tiên ghi rõ; có ít nhất một thông số vé vào cửa điểm thấp mà bạn vẫn giữ ở mặt bằng. Dấu hiệu còn sai: bạn cắt thẳng theo thứ tự điểm; mái không có ô kéo ngược nào; hoặc một cặp kéo ngược được giải bằng mức ở giữa.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: một chiếc ba lô đi làm có ngăn máy tính. Cột độ dày lớp đệm ngăn máy tính có điểm cao nhất, vì chạm mạnh nhu cầu máy không hỏng khi va chạm, và đang ở vai tạo khác biệt: đáng dồn sức. Cột khả năng chống nước là vé vào cửa, điểm thấp, vẫn giữ ở mặt bằng. Cột số ngăn phụ điểm thấp mà đang tốn nhiều công may: đang thừa, hạ từ tám xuống năm. Mái: độ dày lớp đệm kéo ngược với khối lượng ba lô; ưu tiên lớp đệm, theo nhu cầu bảo vệ máy, có mức quan trọng cao hơn nhu cầu đeo nhẹ.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Ba bài trước dựng đủ sáu phần của ngôi nhà chất lượng. Bài này dạy đọc nó. Đây là câu hỏi người ta mang tới khi bắt đầu học lớp này: trong mấy chục thông số, nên dồn tiền và công vào đâu. Lớp Từ điều khách muốn tới yêu cầu kỹ thuật đo được, mã KT-01, đã nói câu hỏi ấy cần một cách đọc bảng có hệ thống. Bài này đưa ra cách đọc đó, gồm một phép tính, ba nhóm thông số, mái nhà, và một lượt soi chỗ bất thường.
Mức quan trọng kỹ thuật là điểm của một thông số, cho biết thông số ấy gánh bao nhiêu phần trong những gì người dùng cần. Cách tính dùng hai thứ đã có trên bảng: mức quan trọng của từng nhu cầu ở tường trái, và điểm của từng ô quan hệ theo thang 9, 3, 1 của bài 2.
Với mỗi cột, đi dọc xuống từng hàng. Ở mỗi ô có dấu, nhân mức quan trọng của hàng với điểm của ô. Cộng các tích ấy lại, được điểm của cột. Có thể đổi điểm các cột ra phần trăm của tổng để dễ so.
Bảng dưới đây là bảng minh hoạ cách tính, dựng ra cho một chiếc ghế văn phòng chung chung, không lấy từ sản phẩm của hãng nào. Mức quan trọng là kết quả giả định của việc nhờ người dùng chia một trăm điểm.
| Nhu cầu (mức quan trọng) | Khoảng chỉnh độ cao phần đỡ lưng | Số thao tác để chỉnh xong | Thời gian lau sạch mặt ngồi | Khối lượng ghế |
|---|---|---|---|---|
| Ngồi cả buổi không đau lưng (50) | mạnh, 9 | yếu, 1 | ||
| Chỉnh cho vừa người mình thật nhanh (30) | yếu, 1 | mạnh, 9 | ||
| Lau chùi không mất công (20) | mạnh, 9 | yếu, 1 | ||
| Mức quan trọng kỹ thuật | 480, tức 48% | 320, tức 32% | 180, tức 18% | 20, tức 2% |
Cột đầu được 50 nhân 9 cộng 30 nhân 1, bằng 480. Các cột khác tính cùng cách.
Có một điều phải nói rõ với người đọc bảng. Con số này dùng để xếp thứ tự thô, không phải một phép đo chính xác. Mức quan trọng lấy từ một nhóm người dùng nhỏ, điểm ô quan hệ là phán đoán của nhóm, và thang 9, 3, 1 là một quy ước. Vì vậy hai cột chênh nhau vài điểm thì coi như ngang. Chỉ những khoảng cách lớn, như 48 phần trăm so với 2 phần trăm ở bảng trên, mới nói lên điều gì. Một cách kiểm nhanh độ vững của thứ tự: thử đổi mức quan trọng của một hai nhu cầu lên xuống một chút, hoặc hạ một ô mạnh xuống vừa. Nếu thứ tự các cột đứng đầu không đổi thì có thể dựa vào nó. Nếu chỉ một thay đổi nhỏ đã đảo thứ tự thì bảng chưa đủ căn cứ để quyết, và cần hỏi thêm người dùng trước.
Bản đầy đủ của ngôi nhà thường thêm hai hàng ngay dưới các cột: độ khó kỹ thuật để cải thiện thông số ấy, và chi phí ước tính. Hình ngôi nhà cho cửa xe hơi trong bài báo của Hauser và Clausing có cả hai hàng này. Đặt chúng cạnh mức quan trọng kỹ thuật thì thấy cột nào vừa quan trọng vừa rẻ để cải thiện, cột nào quan trọng mà đắt.
Điểm số một mình chưa đủ để quyết. Phải đọc nó cùng với vai của thông số đã xếp ở bài 3. Ghép hai thứ ấy lại thì các thông số chia thành ba nhóm.
Nhóm đáng dồn sức gồm những cột có mức quan trọng kỹ thuật cao và đang ở vai tạo khác biệt. Đây là chỗ đáng bỏ thêm tiền, thêm thời gian thử nghiệm, và giao cho người giỏi nhất. Điều cần nhớ: thông số đáng dồn sức là thông số phục vụ nhu cầu quan trọng nhất với người dùng của mình, chứ không phải thông số mà sản phẩm khác đang quảng cáo nhiều nhất.
Nhóm chỉ cần theo kịp gồm những cột ở vai vé vào cửa. Việc cần làm là đạt mức chấp nhận được, tức là theo kịp mặt bằng, rồi dừng. Có một bẫy ở nhóm này: một thông số vé vào cửa có thể có điểm rất thấp, vì nó phục vụ một nhu cầu phải có mà người dùng chấm thấp như bài 2 đã nói. Điểm thấp không có nghĩa là được hạ nó xuống dưới mặt bằng. Hạ xuống là sản phẩm bị gạt ngay.
Nhóm đang thừa gồm những cột có điểm thấp mà nhóm đang đặt mức cao, hoặc đang tốn nhiều tiền để đạt. Ở bảng minh hoạ, nếu nhóm đang chọn khung nhôm đắt tiền chỉ để hạ khối lượng ghế, trong khi cột khối lượng chỉ được 2 phần trăm, thì đó là chỗ thừa. Hạ mức ở đây để lấy tiền cho cột đáng dồn sức là quyết định hợp lý, miễn là không xuống dưới mức chấp nhận được.
Đọc theo ba nhóm như vậy trả lời được câu hỏi nên dồn sức vào đâu, và còn trả lời được câu hỏi ngược lại: nên bớt ở đâu. Câu thứ hai thường bị bỏ qua, mà đó lại là chỗ lấy ra tiền cho câu thứ nhất.
Mái nhà là tam giác trên đỉnh bảng. Mỗi ô của mái nằm ở chỗ hai cột gặp nhau và trả lời một câu: cải thiện thông số này thì thông số kia tốt lên hay xấu đi. Trong hình ngôi nhà cửa xe hơi của Hauser và Clausing, mái ghi bốn mức: kéo cùng chiều mạnh, cùng chiều vừa, ngược chiều vừa, ngược chiều mạnh.
Cặp kéo cùng chiều là tin tốt: cải thiện một thông số thì thông số kia được thêm. Cặp kéo ngược chiều là chỗ phải đánh đổi: muốn thông số này khá lên thì thông số kia kém đi. Ở bảng ghế văn phòng, thêm cơ cấu để khoảng chỉnh độ cao phần đỡ lưng rộng hơn thường làm số thao tác chỉnh tăng lên và khối lượng ghế nặng thêm.
Có ba việc phải làm với mỗi cặp kéo ngược.
Việc thứ nhất, đánh dấu nó trước khi làm mẫu. Mái nhà để trống thì đánh đổi chỉ lộ ra khi mẫu đã làm xong và không đạt. Luật đánh dấu giống luật ô quan hệ ở bài 2: mỗi ô kéo ngược phải nói được cơ chế bằng một câu, chẳng hạn thêm cơ cấu thì thêm khối lượng. Không nói được cơ chế thì để trống, vì một mái dày đặc dấu cũng vô ích như một mái trống.
Việc thứ hai, ghi rõ thông số nào được ưu tiên, và theo nhu cầu nào. Căn cứ là mức quan trọng của các nhu cầu mà hai thông số ấy phục vụ, và vai của chúng. Một thông số vé vào cửa không bao giờ được hạ xuống dưới mức chấp nhận được để nhường chỗ cho một thông số khác.
Việc thứ ba, không giải đánh đổi bằng cách lấy trung bình. Lấy mức ở giữa nghe công bằng, nhưng kết quả thường là cả hai thông số đều chỉ đạt một nửa, có khi cả hai đều rơi dưới mức chấp nhận được. Nếu không chọn được bên nào thì việc đúng là tìm một phương án thiết kế gỡ được mâu thuẫn ấy. Tìm và so phương án là việc của lớp So sánh và chọn giữa nhiều phương án, mã KT-03, một lớp trường sẽ mở sau.
Ngoài ba nhóm và mái nhà, một lượt đọc toàn bảng thường lộ ra bốn loại chỗ bất thường. Mỗi loại là một câu hỏi cần trả lời trước khi chốt.
Hàng nhu cầu quan trọng mà chỉ có ô yếu. Bài 2 đã soi hàng trống. Ở đây là trường hợp khó thấy hơn: hàng có dấu, nhưng toàn ô yếu. Nghĩa là nhu cầu nặng nhất đang không có thông số nào đo nó cho thật. Điểm của cả bảng trông vẫn ổn, vì các ô yếu vẫn được cộng vào.
Tường phải và nền nhà nói ngược nhau. Bài 3 đã nêu cách đọc chỗ lệch này. Ở bài này nó dùng để quyết: nếu người dùng chấm mình kém mà số đo mình hơn, thì dồn thêm tiền đẩy số đo lên chưa chắc có ích. Việc nên làm trước là xem lại thông số có đo đúng điều người dùng cảm nhận không.
Cột chạm rất nhiều hàng. Bài 2 đã gọi loại cột này là thông số then chốt. Ở lúc đọc bảng, điều cần nhớ là mỗi lần dịch con số của nó, cả một loạt nhu cầu dịch theo, có cái khá lên, có cái kém đi. Thông số loại này cần một người chịu trách nhiệm riêng, và mọi đề nghị đổi nó phải đọc lại cả cột.
Cột điểm cao mà chưa ai được giao. Một thông số đáng dồn sức mà không có tên người phụ trách thì sẽ không được dồn sức.
| Đọc gì | Câu hỏi để soi | Dấu hiệu đúng | Dấu hiệu đang đọc sai |
|---|---|---|---|
| Mức quan trọng kỹ thuật | Cột nào gánh nhiều phần nhu cầu nhất | Có vài cột cách xa hẳn các cột khác | Đọc chênh lệch vài điểm như thể có ý nghĩa |
| Nhóm đáng dồn sức | Cột nào điểm cao và đang tạo khác biệt | Mỗi cột có người phụ trách và có thêm nguồn lực | Dồn sức vào thông số sản phẩm khác đang quảng cáo |
| Nhóm chỉ cần theo kịp | Cột nào là vé vào cửa | Mức đặt đúng bằng mặt bằng | Hạ dưới mặt bằng vì điểm thấp |
| Nhóm đang thừa | Cột nào điểm thấp mà tốn nhiều | Có ít nhất một chỗ hạ mức để lấy tiền | Không tìm ra chỗ nào để bớt |
| Mái nhà | Cặp nào kéo ngược nhau | Mỗi cặp có thông số ưu tiên ghi trước, kèm lý do | Mái để trống, hoặc giải bằng mức trung bình |
| Chỗ bất thường | Hàng toàn ô yếu, hai phía lệch nhau, cột then chốt | Mỗi chỗ có một câu hỏi được trả lời | Quyết ngay theo điểm số |
Đọc điểm số như một phán quyết. Tính xong mức quan trọng kỹ thuật, nhóm xếp cột theo điểm rồi cắt từ dưới lên. Người ta làm vậy vì con số trông khách quan, và dùng nó thì không ai phải chịu trách nhiệm về một phán đoán. Nhưng điểm số không biết vai của thông số, không biết mái nhà, và không biết chi phí. Hậu quả rơi vào người dùng: một thông số vé vào cửa điểm thấp bị cắt, và sản phẩm thiếu đúng thứ người ta coi là đương nhiên phải có. Cách tránh là dùng điểm số để mở cuộc bàn bạc, không dùng để kết thúc nó, và đọc đủ ba nhóm cùng mái nhà trước khi quyết.
Bỏ qua mái nhà. Mái là phần khó vẽ nhất, nên hay bị để trống cho kịp tiến độ. Hậu quả là đánh đổi chỉ lộ ra khi mẫu đầu tiên đã làm xong: đạt thông số này thì trượt thông số kia, và phải làm lại mẫu. Người chịu là nhóm làm mẫu và ngân sách. Cách tránh: dù chỉ vẽ mái cho năm sáu thông số quan trọng nhất, vẫn vẽ trước khi làm mẫu.
Dồn sức vào thông số dễ cải thiện chứ không vào thông số quan trọng. Nhóm kỹ thuật thấy một thông số chỉ cần đổi một linh kiện là khá lên rõ, nên làm ngay, trong khi thông số quan trọng nhất thì khó và chậm. Người ta làm vậy vì kết quả thấy được nhanh và báo cáo được ngay. Hậu quả là báo cáo tiến độ đẹp mà sản phẩm không khá hơn ở chỗ người dùng cần. Cách tránh là đặt hàng độ khó kỹ thuật cạnh mức quan trọng kỹ thuật, và chỉ coi một cải tiến là đáng làm khi nó nằm ở cột điểm cao.
Ví dụ dưới đây lấy từ tài liệu công khai năm 2020 của cơ quan y tế công cộng nước Anh, Public Health England, nên bạn tra lại được.
Nước Anh bắt đầu chương trình giảm muối trong thực phẩm từ năm 2004. Năm bộ mức muối mục tiêu tự nguyện, đặt riêng cho từng nhóm thực phẩm, được công bố vào các năm 2006, 2009, 2011, 2014 và 2020. Khi đặt bộ mức cho năm 2024, cơ quan này ghi rõ là có cân nhắc chức năng kỹ thuật của muối và an toàn thực phẩm. Các nhà sản xuất góp ý rằng với bánh mì, muối cần cho việc tạo bột, cho tốc độ lên men và để bảo quản. Với phô mai cứng, họ cho rằng mức năm 2017 đã là mức thấp nhất còn giữ được an toàn vi sinh. Cơ quan này khuyến nghị giảm độ mặn từ từ để khẩu vị người ăn kịp quen.
Nhìn theo bài này: hàm lượng muối kéo ngược với độ an toàn vi sinh và thời gian bảo quản, đúng loại ô trên mái nhà. Vì thế mức được đặt riêng theo từng nhóm.
Điều rút ra: một cặp kéo ngược phải được giải theo từng sản phẩm, không bằng một mức trung bình chung.
Của MES LAB
Bài 2 và bài 3 của lớp này. Bài 2 nói thang 9, 3, 1 và cách soi hàng trống, bài 3 nói cách xếp vai cho thông số.
Bài 5 của lớp này, nói khi nào nên dùng bản rút gọn, khi nào nên dùng bản đầy đủ.
Bên ngoài
"The House of Quality", John R. Hauser và Don Clausing, Harvard Business Review, năm 1988 — hình ngôi nhà đầy đủ cho cửa xe hơi, có mái, có hàng độ khó kỹ thuật và chi phí ước tính.
"Salt reduction targets for 2024", Public Health England, năm 2020 — nguồn của phần ví dụ, kèm phụ lục tóm tắt góp ý của các nhà sản xuất về giới hạn kỹ thuật khi giảm muối.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.