m.school › Phỏng vấn và quan sát người dùng › bài 5

Bài 5 · Những lỗi làm hỏng cả một buổi phỏng vấn, và lớp này dừng ở đâu

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 138 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ gọi tên được những lỗi làm hỏng cả một buổi phỏng vấn, và xếp được mỗi lỗi vào lúc nó xảy ra: trước, trong hay sau buổi. Nhận ra được những chỗ câu trả lời bị lệch vì văn hoá giữ thể diện ở Việt Nam, và đổi được câu hỏi để đi qua chỗ đó. Lên được một việc làm trong tháng này với những gì cả lớp đã dạy.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Bạn tới một kho hàng để phỏng vấn. Người được cử ra trả lời toàn bằng câu theo quy định thì, và khi bạn xin kể một lần cụ thể, họ phải quay sang hỏi người khác. Đây là lỗi nào, và nên tránh thế nào?

  2. Câu 2. Nghe lại bản ghi âm, bạn thấy mình hay nói đúng rồi và gật đầu mạnh hơn mỗi khi người được hỏi kể điều khớp với ý mình. Theo bài, nên sửa thế nào ở buổi sau?

  3. Câu 3. Bạn phỏng vấn người dùng về một dòng hàng trong nước. Ai cũng khen, nhưng không ai kể được lần dùng cụ thể nào. Theo quan điểm của bài, cách đi qua chắc chắn hơn cả là gì?

  4. Câu 4. Năm buổi phỏng vấn đầu cho toàn câu trả lời mơ hồ. Nhóm quyết định làm thêm mười lăm buổi nữa cho chắc, giữ nguyên khung câu hỏi. Theo bài, nên làm gì?

  5. Câu 5. Bạn quyết định chưa nói mình là người của hãng làm ra sản phẩm, để câu trả lời bớt nhẹ nhàng hơn thực tế. Theo bài, điều nào bạn vẫn phải làm?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Lấy bản ghi âm hoặc ghi chép của buổi phỏng vấn gần nhất bạn đã làm hay đã ngồi dự. Soát nó theo bảng tổng hợp ở trên: với mỗi lỗi, ghi có hoặc không, và nếu có thì chép ra đúng chỗ nó xảy ra. Rồi chọn một lỗi nặng nhất, viết lại câu hỏi hoặc cách sắp xếp buổi để lần sau không mắc nữa.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: bạn tìm ra ít nhất một lỗi của phía mình, có trích đúng câu hoặc đúng lúc; cách sửa là một việc cụ thể làm được ở buổi sau, như đổi một câu hỏi hay đổi người được hẹn. Dấu hiệu còn sai: bạn ghi không cho mọi dòng; mọi lỗi bạn tìm ra đều là lỗi của người được hỏi; cách sửa là hỏi thêm người.

Lời giải mẫu. Buổi hỏi chủ một tiệm sửa xe máy về cách họ đặt phụ tùng. Lỗi thứ nhất tìm ra: người hỏi tự giới thiệu là người của hãng làm phụ tùng ngay câu đầu; sau đó người được hỏi khen hàng của hãng ba lần, không kể lần đặt hàng nào. Lỗi thứ hai: ở phút thứ hai mươi, người hỏi cho xem mẫu sản phẩm mới, và từ đó buổi chuyển thành nhận xét mẫu. Cách sửa cho buổi sau: giới thiệu là đang tìm hiểu cách các tiệm đặt phụ tùng, chưa nói tên hãng tới phần khép lại; câu mở đầu đổi thành «lần gần nhất anh đặt phụ tùng là hôm nào, anh đặt thế nào?»; không mang mẫu sản phẩm theo.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Bốn bài trước dạy cách làm đúng từng phần: chuẩn bị, hỏi, quan sát, ghi và đọc lại. Bài này nhìn từ phía ngược lại: những lỗi đủ nặng để làm hỏng cả một buổi, dù từng câu hỏi đều viết đúng. Phần lớn các lỗi đó không nằm ở người được hỏi. Chúng nằm ở cách buổi được sắp xếp và ở chính người hỏi.

1

Có những lỗi xảy ra từ trước buổi, và tới lúc ngồi xuống mới lộ ra

Lỗi thứ nhất là hẹn sai người. Bạn muốn nghe người trực tiếp làm việc, nhưng nơi bạn tới cử ra người quản lý, hoặc người nói chuyện giỏi nhất. Người đó kể quy trình như trong tài liệu, vì đó là thứ họ nắm, còn những bước nhỏ hằng ngày thì họ không làm. Dấu hiệu nhận ra trong buổi: câu trả lời toàn là «theo quy định thì», và khi bạn xin một lần cụ thể, họ phải hỏi lại người khác. Cách tránh: khi hẹn, tả việc chứ đừng tả chức danh. «Người trực tiếp nhập hàng vào kho mỗi sáng» rõ hơn «người phụ trách kho».

Lỗi thứ hai là hẹn sai chỗ. Buổi được dời sang phòng họp hay quán cà phê cho tiện. Bài 1 và bài 3 đã nói vì sao chỗ làm việc thật cho bạn những thứ phòng họp không có. Ở đây chỉ nhắc: dời chỗ là mất phần lớn những gì người ta không kể được.

Lỗi thứ ba là đi cùng, hoặc để cấp trên của người được hỏi ngồi cùng. Có khi buổi do cấp trên sắp xếp, và cấp trên ở lại «cho vui». Từ lúc đó, người được hỏi trả lời cho hai người nghe, và một trong hai người là người đánh giá họ. Những chuyện như làm sai, làm tắt, làm khác quy định sẽ không được kể. Cách tránh: xin cấp trên cho phép, cảm ơn họ, rồi xin được nói chuyện riêng. Nếu chính bạn là cấp trên của người được hỏi, nên để người khác đi hỏi.

Lỗi thứ tư là mang một khung câu hỏi chưa ai thử. Câu dẫn, câu kép, câu mang sẵn giả định mà bài 2 đã nói thường chỉ lộ ra khi đọc to lên với một người thật. Cách tránh rẻ nhất: hỏi thử một người trong công ty, không ở trong dự án, mười lăm phút trước khi đi, và sửa những câu làm họ phải hỏi lại.

Bốn lỗi này có chung một điểm. Tới lúc chúng lộ ra thì buổi đã bắt đầu, người được hỏi đã bỏ thời gian ra, và bạn không còn cách nào sửa ngay tại chỗ. Vì vậy chúng phải được chặn từ lúc hẹn, không phải lúc hỏi.

2

Trong và ngay sau buổi, phần lớn lỗi do chính người hỏi gây ra

Lỗi thứ nhất trong buổi là để lộ câu trả lời mình mong. Không phải bằng lời, bài 2 đã nói chuyện chữ trong câu hỏi, mà bằng cử chỉ. Người hỏi gật đầu mạnh hơn khi nghe điều mình mong, nói «đúng rồi» khi nghe điều khớp với ý mình, còn người ghi thì cúi xuống ghi nhanh hơn. Người được hỏi nhận ra những dấu hiệu đó, dù không ai nói gì, và kể thêm về hướng được thưởng. Ví dụ cuối bài cho thấy những dấu hiệu nhỏ tới mức nào vẫn đủ để lộ. Cách tránh: phản ứng đều tay với mọi câu trả lời, kể cả câu làm bạn thất vọng, và người ghi ghi đều tay suốt buổi.

Lỗi thứ hai là nói nhiều hơn nghe. Người hỏi giải thích dự án, kể kinh nghiệm của mình, hay nói hộ khi người kia đang tìm chữ. Dấu hiệu tự kiểm được: nghe lại bản ghi âm và xem ai nói nhiều hơn. Trong một buổi phỏng vấn, người được hỏi phải là người nói phần lớn thời gian.

Lỗi thứ ba là đưa phương án ra quá sớm. Người hỏi cho xem bản vẽ, hay hỏi «nếu có một cái máy làm được việc này thì anh có dùng không». Từ lúc đó, người được hỏi chuyển sang nhận xét phương án của bạn, thường bằng lời khen cho phải phép, và thôi kể về việc của họ. Cách tránh: giữ phương án tới sau khi buổi đã khép lại, hoặc dành cho một buổi khác. Thử phương án với người dùng là việc của lớp Làm bản mẫu để học, không phải để trình diễn, mã AD-03, một lớp trường sẽ mở sau.

Lỗi thứ tư là bênh vực sản phẩm khi người ta chê. Bài 2 đã nói, ở đây chỉ nhắc vì nó làm hỏng toàn bộ phần còn lại của buổi chứ không chỉ một câu.

Ngay sau buổi cũng có hai lỗi làm mất phần lớn những gì đã thu được: không viết lại trong ngày, và để một người tự đọc lại ghi chép của chính mình. Bài 4 đã nói cách tránh cả hai. Hai lỗi này nguy ở chỗ không ai nhìn thấy chúng. Buổi trông vẫn thành công, chỉ có danh sách phát hiện là mỏng đi.

Những lỗi làm hỏng cả một buổi, xếp theo lúc xảy ra: trước, trong và ngay sau buổi.Trước buổi: hẹn sai người, hẹn sai chỗ, cấp trên của người được hỏi ngồi cùng, khung câu hỏi chưa ai thử; các lỗi này lộ ra khi đã ngồi xuống, không sửa tại chỗ được, nên phải chặn từ lúc hẹn. Trong buổi: để lộ câu trả lời mình mong, nói nhiều hơn nghe, đưa phương án ra quá sớm, bênh vực sản phẩm khi bị chê; phần lớn do chính người hỏi gây ra. Ngay sau buổi: không viết lại trong ngày, để một người tự đọc lại ghi chép của mình; không ai nhìn thấy, buổi trông vẫn thành công, chỉ danh sách phát hiện mỏng đi. LỖI LÀM HỎNG CẢ BUỔI xếp theo lúc xảy ra TRƯỚC BUỔI • hẹn sai người • hẹn sai chỗ • cấp trên củangười được hỏi ngồicùng • khung câu hỏichưa ai thử lộ ra khi đã ngồixuống, không sửatại chỗ được phải chặn từ lúchẹn TRONG BUỔI • để lộ câu trả lờimình mong • nói nhiều hơnnghe • đưa phương án raquá sớm • bênh vực sản phẩmkhi bị chê phần lớn do chínhngười hỏi gây ra NGAY SAU BUỔI • không viết lạitrong ngày • để một người tựđọc lại ghi chépcủa mình không ai nhìn thấy:buổi trông vẫnthành công, chỉdanh sách phát hiệnmỏng đi Những lỗi làm hỏng cả một buổi, xếp theo lúc xảy ra: trước, trong và ngay sau buổi.Trước buổi: hẹn sai người, hẹn sai chỗ, cấp trên của người được hỏi ngồi cùng, khung câu hỏi chưa ai thử; các lỗi này lộ ra khi đã ngồi xuống, không sửa tại chỗ được, nên phải chặn từ lúc hẹn. Trong buổi: để lộ câu trả lời mình mong, nói nhiều hơn nghe, đưa phương án ra quá sớm, bênh vực sản phẩm khi bị chê; phần lớn do chính người hỏi gây ra. Ngay sau buổi: không viết lại trong ngày, để một người tự đọc lại ghi chép của mình; không ai nhìn thấy, buổi trông vẫn thành công, chỉ danh sách phát hiện mỏng đi. LỖI LÀM HỎNG CẢ BUỔI xếp theo lúc xảy ra TRƯỚC BUỔI • hẹn sai người • hẹn sai chỗ • cấp trên của người được hỏingồi cùng • khung câu hỏi chưa ai thử lộ ra khi đã ngồi xuống, khôngsửa tại chỗ được phải chặn từ lúc hẹn TRONG BUỔI • để lộ câu trả lời mình mong • nói nhiều hơn nghe • đưa phương án ra quá sớm • bênh vực sản phẩm khi bị chê phần lớn do chính người hỏi gâyra NGAY SAU BUỔI • không viết lại trong ngày • để một người tự đọc lại ghichép của mình không ai nhìn thấy: buổi trôngvẫn thành công, chỉ danh sáchphát hiện mỏng đi
Hình 1. Lỗi làm hỏng cả buổi xếp theo lúc xảy ra: lỗi trước buổi phải chặn từ lúc hẹn, lỗi trong buổi phần lớn do người hỏi, lỗi sau buổi thì không ai nhìn thấy.
3

Ở Việt Nam, văn hoá giữ thể diện làm câu trả lời lệch theo những đường riêng

Sách của chúng tôi gọi đây là một khó khăn riêng khi nghiên cứu người dùng ở Việt Nam: văn hoá giữ thể diện (face-saving). Trong nhiều hoàn cảnh, người được hỏi có xu hướng trả lời theo điều họ nghĩ người hỏi muốn nghe, và tránh nói điều không hay để khỏi mất lòng. Sách nhấn mạnh rằng điều này không có nghĩa là người dùng không trung thực. Nó có nghĩa là hoàn cảnh của buổi hỏi tác động rất mạnh tới câu trả lời.

Sách chỉ ra mấy hoàn cảnh hay gặp. Khi người hỏi giới thiệu mình là người của hãng làm ra sản phẩm, câu trả lời về sản phẩm đó thường nhẹ nhàng hơn thực tế. Trong nhóm thảo luận, mọi người hay đồng thuận theo người có vẻ có thẩm quyền nhất. Khi nói về hàng trong nước, người ta hay khen cho phải phép, dù chính họ ít dùng. Khi hỏi mức giá sẵn sàng trả, con số thường thấp hơn thực tế.

Cách đi qua những chỗ này, theo sách, có bốn việc. Thứ nhất, chưa nói mình là người của hãng nào tới cuối buổi. Thứ hai, hỏi về hàng của các bên khác trước, để có một mức so sánh. Thứ ba, hỏi việc đã làm thay cho hỏi cảm nghĩ: «lần mua gần nhất anh chọn loại nào?» thay cho «anh có thích hàng trong nước không?». Hai câu này là câu mẫu để minh hoạ. Thứ tư, chọn phỏng vấn riêng thay cho phỏng vấn nhóm, như bài 1 đã nói.

Việc thứ nhất cần nói rõ giới hạn, vì nó dễ bị hiểu sai. Chưa nói tên hãng không có nghĩa là nói dối về mình. Bạn vẫn nói đúng mục đích: đang tìm hiểu cách mọi người làm một việc. Bạn vẫn xin phép ghi âm, như bài 1 đã nói. Tới phần khép lại, bạn nói rõ mình làm ở đâu, và hỏi lại người ta có đồng ý cho dùng những gì đã nói không. Nếu người ta không đồng ý, bạn không dùng.

Theo quan điểm của chúng tôi, cách đi qua chắc chắn hơn cả không nằm ở mẹo giấu tên, mà ở việc hỏi về chuyện đã xảy ra. Rất khó khen cho phải phép khi đang kể lại đúng từng bước của lần làm gần nhất.

4

Năm bài gói lại thành một buổi làm cho đúng nghề, còn những việc sau buổi thuộc các lớp khác

Gói cả lớp lại thì một buổi phỏng vấn hay quan sát làm đúng nghề có hình dạng như sau. Nó bắt đầu từ một câu hỏi cần trả lời gắn với một quyết định có thật. Nó diễn ra ở chỗ người ta làm việc, hỏi về những lần đã xảy ra, và người hỏi nghe nhiều hơn nói. Nó kết thúc bằng một tập ghi chép tách rõ chữ của người ta với chữ của mình, được nhiều người đọc, và gom thành những câu phát hiện truy ngược được.

Lớp này có giới hạn của nó. Nó dạy một buổi, không dạy cả một đợt nghiên cứu dài ngày. Nó dừng ở danh sách phát hiện. Bốn việc tiếp theo nằm ở bốn lớp khác, trường sẽ mở dần ở các đợt sau. Đọc nguồn công khai về thị trường thuộc lớp Đọc thị trường bằng dữ liệu công khai, mã NC-03. Đọc con số cho khỏi kết luận sai thuộc lớp Đọc số liệu thị trường mà không kết luận sai, mã NC-04. Biến câu phát hiện thành yêu cầu cho sản phẩm thuộc lớp Từ hiểu người dùng tới bản yêu cầu sản phẩm, mã AD-02. Thử phương án với người dùng thuộc lớp Làm bản mẫu để học, không phải để trình diễn, mã AD-03.

Một việc làm được trong tháng này: chọn một quyết định đang chờ, viết câu hỏi cần trả lời, làm ba buổi với ba người đang làm việc đó, mỗi buổi có một người dẫn và một người ghi, viết lại trong ngày, và nhờ hai người khác đọc cùng tập ghi chép. Bạn sẽ biết phải làm gì ở từng bước. Làm được tới đâu thì tuỳ việc của bạn và người bạn hẹn được.

Bảng tổng hợp những lỗi làm hỏng cả một buổi

LỗiLúc xảy raDấu hiệu nhận raCách tránh
Hẹn sai ngườitrước buổicâu trả lời toàn là quy định, không có lần cụ thểkhi hẹn, tả việc chứ không tả chức danh
Cấp trên ngồi cùngtrước buổingười được hỏi nhìn sang cấp trên trước khi trả lờixin phép cấp trên, rồi nói chuyện riêng
Khung chưa thửtrước buổingười được hỏi phải hỏi lại câu của bạnhỏi thử một người ngoài dự án
Để lộ câu trả lời mình mongtrong buổibạn gật đầu, ghi nhanh hơn ở một số câuphản ứng đều tay với mọi câu trả lời
Đưa phương án quá sớmtrong buổingười ta bắt đầu nhận xét bản vẽ thay vì kể việcgiữ phương án tới sau buổi
Câu trả lời cho phải phéptrong buổi, rõ ở Việt Namtoàn lời khen, không có lần cụ thểchưa nói tên hãng tới cuối, hỏi việc đã làm
Không viết lại, một người đọcsau buổidanh sách phát hiện mỏng, chỉ khớp ý một ngườiviết lại trong ngày, nhiều người đọc riêng
Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Tưởng lỗi nằm ở người được hỏi. Buổi phỏng vấn không cho ra gì, và nhóm kết luận: người dùng không biết mình cần gì, hay người dùng ở đây không chịu nói thật. Người ta kết luận vậy vì đó là cách giải thích không bắt ai trong nhóm phải sửa gì. Hậu quả là nhóm thôi đi hỏi, và quay về quyết định theo ý của người có tiếng nói lớn nhất trong phòng họp. Người chịu cuối cùng là người dùng, vì sản phẩm làm ra cho một người dùng tưởng tượng. Cách tránh: trước khi kết luận về người được hỏi, nghe lại bản ghi âm và soát theo bảng ở trên. Thường bạn sẽ thấy ít nhất một lỗi của phía mình.

Sửa bằng cách hỏi nhiều người hơn, thay vì sửa cách hỏi. Năm buổi đầu cho câu trả lời mơ hồ, và nhóm quyết định làm thêm mười lăm buổi nữa cho chắc. Người ta làm vậy vì thêm người thì dễ hơn sửa chính mình, và vì số buổi lớn trông như bằng chứng mạnh hơn. Hậu quả là cùng một lỗi được lặp lại thêm mười lăm lần: cùng câu hỏi dẫn, cùng cấp trên ngồi cùng, cùng những câu trả lời cho phải phép. Giờ nó trông chắc chắn hơn, nhưng vẫn lệch như cũ. Người chịu là người phải ra quyết định, vì họ tin vào một kết quả trông vững mà không vững. Cách tránh: sau hai ba buổi đầu, dừng lại soát cách hỏi, sửa khung, rồi mới đi tiếp.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Ví dụ dưới đây là một cuộc điều tra tâm lý học có thật, được ghi lại trong một cuốn sách đã có bản tiếng Anh từ năm 1911, nên bạn tra lại được.

Đầu thế kỉ hai mươi, ở Berlin có một con ngựa tên Hans được cho là biết làm tính: người hỏi đặt một bài toán, con ngựa gõ móng đúng số lần. Cuối năm 1904, nhà tâm lý học Oskar Pfungst làm một loạt thử. Một trong số đó dùng những tấm thẻ có viết số. Khi người hỏi không biết số trên thẻ, con ngựa trả lời đúng tám phần trăm trong bốn mươi chín lần thử. Khi người hỏi biết, nó đúng chín mươi tám phần trăm trong bốn mươi hai lần.

Pfungst tìm ra lý do. Khi đặt câu hỏi, người hỏi hơi cúi người về phía trước để nhìn chân con ngựa. Khi nó gõ đủ số, người hỏi hơi ngẩng đầu lên. Không ai làm vậy có chủ ý. Con ngựa đọc những cử động đó.

Nhìn theo bài này: người hỏi không gian lận, và không biết mình đang để lộ câu trả lời.

Điều rút ra: người được hỏi đọc được điều bạn mong qua cử chỉ, kể cả khi chính bạn không biết mình đang để lộ.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Lớp Làm sao biết người ta thật sự cần gì, mã NC-01, bài 5 — nói việc tìm hiểu người dùng làm được trong tuần, là việc mà lớp này dạy cách làm cho đúng nghề.

Lớp Từ hiểu người dùng tới bản yêu cầu sản phẩm, mã AD-02, trường sẽ mở sau — bước tiếp theo sau danh sách phát hiện của bài 4.

Bên ngoài

"Clever Hans (The Horse of Mr. Von Osten)", Oskar Pfungst, bản tiếng Anh của Carl L. Rahn, Henry Holt and Company, năm 1911 — sách gốc của cuộc điều tra trong phần ví dụ, đọc được trên thư viện sách điện tử Project Gutenberg.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook