m.school › Người dùng, khách hàng và người mua — ba người khác nhau › bài 1

Bài 1 · Người dùng, người mua và khách hàng là ba vai khác nhau, dù đôi khi một người đóng cả ba

Tài liệuTải slide bài giảng (PDF)PDF · 136 KB · khổ 16:9, in hoặc chiếu được
Học xong bài này bạn sẽ gọi đúng tên ba vai trong một lần bán của một sản phẩm cụ thể, bằng ba câu hỏi ngắn. Nói được trong lần bán ấy ba vai đang rơi vào cùng một người hay tách ra hai, ba người. Chỉ ra được trong công ty bạn chữ khách hàng đang được dùng để gọi vai nào, và chỗ nào hai phòng dùng cùng một chữ cho hai vai khác nhau.
5 câu · chấm ngay

Kiểm tra nhanh

Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.

  1. Câu 1. Theo bài, câu hỏi «công ty mình xuất hoá đơn cho ai» dùng để nhận ra vai nào?

  2. Câu 2. Một công ty mua máy cho xưởng của mình. Trưởng phòng mua hàng so các hãng, chọn một loại và trình ký. Người thợ đứng máy đó mỗi ngày nhưng không bỏ ra đồng nào. Người thợ đóng vai gì trong lần bán này?

  3. Câu 3. Một công ty đặt thẳng từ nhà sản xuất một lô bình nước, tự chọn mẫu, để tặng nhân viên. Lần bán này thuộc kiểu xếp vai nào?

  4. Câu 4. Bạn đọc biên bản họp và thử thay mỗi chữ khách hàng bằng một tên vai. Ở một câu, bạn phải nghĩ khá lâu mà vẫn chưa biết nên thay bằng chữ nào. Theo bài, điều này cho thấy gì?

  5. Câu 5. Một xưởng xưa nay bán dụng cụ thẳng cho thợ tự dùng. Nay xưởng đưa hàng vào một chuỗi bán lẻ, và đội làm sản phẩm vẫn giữ nguyên cách nghĩ người mua cũng là người dùng. Theo bài, nên làm gì?

Bài tập tự chấm

Thử nhìn lại việc của mình

Việc cần làm. Lấy một sản phẩm công ty bạn đang bán, và chọn một lần bán cụ thể của nó, ví dụ một đơn hàng gần đây. Viết ba dòng, theo ba câu hỏi trong bảng tổng hợp. Mỗi dòng ghi tên người hoặc tên bên thật, không ghi tên nhóm chung chung. Sau đó ghi lần bán này thuộc kiểu xếp vai nào trong bốn kiểu ở mục 3. Cuối cùng, hỏi ba người ở ba phòng khác nhau cùng một câu: khách hàng của sản phẩm này là ai. Ghi nguyên văn ba câu trả lời.

Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: cả ba dòng đều có tên người hoặc tên bên thật. Bạn nói được vì sao lần bán này thuộc kiểu đó. Và bạn xếp được mỗi câu trả lời của ba đồng nghiệp vào đúng một vai. Dấu hiệu còn sai: dòng người dùng chỉ ghi chung chung kiểu người tiêu dùng, vì bạn chưa từng gặp ai. Hoặc ba câu trả lời của đồng nghiệp chỉ ba vai khác nhau mà chưa ai nhận ra điều đó.

Lời giải mẫu. Sản phẩm: một loại hộp nhựa đựng thực phẩm. Lần bán: một đơn hàng tháng trước. Khách hàng: một chuỗi siêu thị, vì hoá đơn xuất cho chuỗi đó. Người mua: chưa biết tên người cụ thể, chỉ biết từ phản ánh là thường là người nội trợ trong gia đình. Người dùng: cũng người nội trợ ấy, cộng thêm người nhà mang hộp cơm đi làm. Kiểu xếp vai: kiểu thứ hai, có phần lấn sang kiểu thứ tư vì người mang hộp đi làm không phải người chọn mua. Ba câu trả lời: phòng kinh doanh nói chuỗi siêu thị, phòng tiếp thị nói các bà nội trợ, phòng kỹ thuật nói người gọi điện bảo hành. Ba câu chỉ ba vai, và đây là lần đầu cả ba phòng thấy điều đó.

Bài đọc đầy đủ

Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu

Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, nói rằng phần việc riêng của nghề là quyết định làm ra cái gì, cho ai. Lớp này nói kỹ chữ cho ai. Bài đầu chỉ làm một việc: đặt định nghĩa cho ba vai, và chỉ cách nhận ra từng vai trong một lần bán thật. Mỗi vai muốn gì sẽ ở bài 2. Nhầm vai thì sai ra sao sẽ ở bài 3.

1

Chữ cho ai thật ra hỏi ba câu khác nhau

Khi một nhóm làm sản phẩm nói sản phẩm này làm cho ai, họ thường nghĩ tới một người. Nhưng trong phần lớn các lần bán, có ba câu hỏi khác nhau nằm trong chữ cho ai, và mỗi câu có thể có một câu trả lời khác.

Câu thứ nhất: ai cầm sản phẩm lên dùng, ngày này qua ngày khác. Người đó là người dùng (user). Người dùng là người trực tiếp dùng sản phẩm, và sống với nó sau khi nó đã được mua.

Câu thứ hai: ai chọn cái này thay vì cái khác, rồi rút tiền ra trả. Người đó là người mua (buyer). Người mua là người quyết chọn và trả tiền ở một lần mua cụ thể.

Câu thứ ba: công ty làm ra sản phẩm xuất hoá đơn cho ai. Bên đó là khách hàng (customer). Trong lớp này, khách hàng là bên đặt hàng và trả tiền trực tiếp cho công ty làm ra sản phẩm.

Bạn cần biết một điều trước khi dùng ba định nghĩa này. Sách và tài liệu không dùng ba chữ ấy thống nhất. Có sách gọi người trả tiền là khách hàng, có sách gọi mọi người liên quan tới sản phẩm là khách hàng. Lớp này chọn một nghĩa cho mỗi chữ và giữ đúng nghĩa đó qua cả năm bài. Khi đọc tài liệu khác, bạn hãy xem tác giả đang dùng chữ theo nghĩa nào, đừng mặc định là giống lớp này.

Vì sao phải tách thành ba, mà không gộp lại cho gọn? Vì ba vai gặp sản phẩm ở ba lúc khác nhau và có ba lý do khác nhau để nói có hay không. Khách hàng nói có khi sản phẩm đi được qua khâu bán của họ. Người mua nói có ở lúc chọn. Người dùng nói có, hoặc thôi không dùng nữa, sau nhiều tuần sống cùng sản phẩm. Gộp ba vai làm một thì nhóm làm sản phẩm chỉ còn nghe được một trong ba lời đó, và thường là lời của vai đứng gần mình nhất.

Chữ cho ai chứa ba câu hỏi, mỗi câu chỉ ra một vai, và mỗi vai nói có vào một lúc khác nhau.Ba ô cạnh nhau. Người dùng: ai cầm sản phẩm lên dùng, ngày này qua ngày khác; nói có, hoặc thôi dùng, sau nhiều tuần sống cùng sản phẩm. Người mua: ai chọn cái này thay vì cái khác, rồi rút tiền ra trả; nói có ở lúc chọn. Khách hàng: công ty làm ra sản phẩm xuất hoá đơn cho ai; nói có khi sản phẩm đi được qua khâu bán của họ. Ghi chú dưới: gộp ba vai làm một thì nhóm làm sản phẩm chỉ còn nghe được một trong ba lời, thường là lời của vai đứng gần mình nhất. CHỮ CHO AI HỎI BA CÂU Người dùng Ai cầm sản phẩm lêndùng, ngày này quangày khác? Nói có, hoặc thôidùng, sau nhiềutuần sống cùng sảnphẩm. Người mua Ai chọn cái nàythay vì cái khác,rồi rút tiền ratrả? Nói có ở lúc chọn. Khách hàng Công ty làm ra sảnphẩm xuất hoá đơncho ai? Nói có khi sản phẩmđi được qua khâubán của họ. Gộp ba vai làm một thì nhóm làm sản phẩm chỉ còn nghe được một trongba lời, thường là lời của vai đứng gần mình nhất. Chữ cho ai chứa ba câu hỏi, mỗi câu chỉ ra một vai, và mỗi vai nói có vào một lúc khác nhau.Ba ô cạnh nhau. Người dùng: ai cầm sản phẩm lên dùng, ngày này qua ngày khác; nói có, hoặc thôi dùng, sau nhiều tuần sống cùng sản phẩm. Người mua: ai chọn cái này thay vì cái khác, rồi rút tiền ra trả; nói có ở lúc chọn. Khách hàng: công ty làm ra sản phẩm xuất hoá đơn cho ai; nói có khi sản phẩm đi được qua khâu bán của họ. Ghi chú dưới: gộp ba vai làm một thì nhóm làm sản phẩm chỉ còn nghe được một trong ba lời, thường là lời của vai đứng gần mình nhất. CHỮ CHO AI HỎI BA CÂU Người dùng Ai cầm sản phẩm lên dùng, ngàynày qua ngày khác? Nói có, hoặc thôi dùng, saunhiều tuần sống cùng sản phẩm. Người mua Ai chọn cái này thay vì cáikhác, rồi rút tiền ra trả? Nói có ở lúc chọn. Khách hàng Công ty làm ra sản phẩm xuấthoá đơn cho ai? Nói có khi sản phẩm đi đượcqua khâu bán của họ. Gộp ba vai làm một thì nhómlàm sản phẩm chỉ còn nghe đượcmột trong ba lời, thường làlời của vai đứng gần mìnhnhất.
Hình 1. Chữ cho ai chứa ba câu hỏi, mỗi câu chỉ ra một vai, và mỗi vai nói có hay không vào một lúc khác nhau.
2

Vai được nhận ra bằng việc người đó làm, không bằng chức danh hay tên gọi

Ba chữ trên là tên của ba vai, không phải tên của ba nhóm người. Vai là một việc mà ai đó làm trong một lần bán. Cùng một người có thể làm hai việc, hoặc cả ba việc, ở những lúc khác nhau.

Sách gốc của chúng tôi dùng hình ảnh hai cái mũ cho chỗ này. Một người mua chiếc bình giữ nhiệt ở siêu thị rồi tự dùng. Lúc đứng trước kệ, người ấy đội mũ người mua: nhìn giá, nhìn màu, đọc lời hứa trên hộp. Ba tháng sau, khi rửa nắp bình mỗi tối, cũng người ấy đội mũ người dùng. Một người, hai vai, hai lúc, và hai thước đo khác nhau.

Từ đây có một cách nhận ra vai mà không bị lẫn. Đừng hỏi người này là ai. Hãy hỏi người này làm gì trong lần bán này. Nếu họ chọn và trả tiền thì họ đang đóng vai người mua, dù chức danh của họ là gì. Nếu họ dùng sản phẩm hằng ngày thì họ là người dùng, dù họ không bỏ ra đồng nào.

Cách nhận ra này quan trọng nhất khi khách hàng là một tổ chức. Một công ty mua máy cho xưởng của mình. Công ty là khách hàng, vì hoá đơn mang tên công ty. Người đóng vai người mua có thể là trưởng phòng mua hàng, hoặc giám đốc ký duyệt. Người dùng là người thợ đứng máy. Không ai trong ba người đó mang chức danh người dùng hay người mua. Bạn chỉ nhận ra họ bằng việc họ làm.

Có một hệ quả cần nói rõ. Vai gắn với một lần bán, không gắn cố định với một người. Cũng người phụ huynh ấy, khi mua bút cho con thì là người mua. Khi mua bút cho chính mình thì vừa là người mua, vừa là người dùng. Vì vậy khi soi vai, bạn luôn phải chọn một lần bán cụ thể, đừng soi chung chung cho cả một nhóm khách.

3

Ba vai có lúc trùng nhau, có lúc tách ra, và có bốn kiểu xếp thường gặp

Khi đặt ba vai cạnh nhau, bạn sẽ thấy chúng xếp theo một trong bốn kiểu.

Kiểu thứ nhất: cả ba vai là một. Một người thợ mộc mua dụng cụ thẳng từ xưởng làm ra nó, rồi tự dùng. Người đó vừa là khách hàng của xưởng, vừa là người mua, vừa là người dùng. Đây là kiểu dễ nhất, vì nhóm làm sản phẩm chỉ cần nghe một người.

Kiểu thứ hai: người mua và người dùng là một, khách hàng là bên trung gian. Đây là kiểu phổ biến nhất với hàng tiêu dùng bán qua cửa hàng. Người tiêu dùng chọn, trả tiền, rồi tự dùng. Nhưng nhà sản xuất không bán cho họ. Nhà sản xuất bán cho nhà phân phối hoặc chuỗi bán lẻ, và bên đó mới là khách hàng.

Kiểu thứ ba: khách hàng và người mua là một, người dùng là người khác. Ví dụ một công ty đặt thẳng từ nhà sản xuất một lô bình nước để tặng nhân viên. Công ty vừa đặt hàng, vừa chọn mẫu. Người dùng là từng nhân viên, và họ không được hỏi ý kiến lúc chọn.

Kiểu thứ tư: ba vai tách rời, ba người khác nhau. Hàng cho trẻ em bán qua cửa hàng là kiểu này: trẻ dùng, cha mẹ mua, cửa hàng là khách hàng của nhà sản xuất. Máy móc bán cho nhà máy qua nhà phân phối cũng là kiểu này.

Ba vai xếp theo bốn kiểu, từ cả ba nằm trong một người tới ba người khác nhau.Bảng bốn hàng, ba cột người dùng, người mua, khách hàng; ô kéo dài qua nhiều cột nghĩa là các vai đó là một. Kiểu 1, cả ba vai là một: người thợ mộc mua dụng cụ thẳng từ xưởng rồi tự dùng, một ô chiếm cả ba cột. Kiểu 2, người mua và người dùng là một: hàng tiêu dùng bán qua cửa hàng; người tiêu dùng chiếm hai cột đầu, khách hàng là nhà phân phối hoặc chuỗi bán lẻ. Kiểu 3, khách hàng và người mua là một: công ty đặt thẳng một lô bình nước để tặng nhân viên; người dùng là từng nhân viên, công ty đặt hàng chiếm hai cột sau. Kiểu 4, ba vai tách rời: hàng cho trẻ em bán qua cửa hàng; trẻ dùng, cha mẹ mua, cửa hàng là khách hàng. Ghi chú: ba vai càng tách xa, nhóm làm sản phẩm càng dễ chỉ nghe được vai gần mình nhất. BA VAI XẾP THEO BỐN KIỂU Người dùng Người mua Khách hàng Kiểu 1 · cả ba vailà một Người thợ mộc mua dụngcụ thẳng từ xưởng rồitự dùng. người thợ mộc Kiểu 2 · người muavà người dùng làmột Hàng tiêu dùng bán quacửa hàng. người tiêu dùng nhà phânphối, chuỗibán lẻ Kiểu 3 · khách hàngvà người mua là một Công ty đặt thẳng mộtlô bình nước để tặngnhân viên. từng nhânviên công ty đặt hàng Kiểu 4 · ba vaitách rời Hàng cho trẻ em bánqua cửa hàng. trẻ cha mẹ cửa hàng Ba vai càng tách xa, nhóm làm sản phẩm càng dễ chỉ nghe được vai gầnmình nhất. Ba vai xếp theo bốn kiểu, từ cả ba nằm trong một người tới ba người khác nhau.Bảng bốn hàng, ba cột người dùng, người mua, khách hàng; ô kéo dài qua nhiều cột nghĩa là các vai đó là một. Kiểu 1, cả ba vai là một: người thợ mộc mua dụng cụ thẳng từ xưởng rồi tự dùng, một ô chiếm cả ba cột. Kiểu 2, người mua và người dùng là một: hàng tiêu dùng bán qua cửa hàng; người tiêu dùng chiếm hai cột đầu, khách hàng là nhà phân phối hoặc chuỗi bán lẻ. Kiểu 3, khách hàng và người mua là một: công ty đặt thẳng một lô bình nước để tặng nhân viên; người dùng là từng nhân viên, công ty đặt hàng chiếm hai cột sau. Kiểu 4, ba vai tách rời: hàng cho trẻ em bán qua cửa hàng; trẻ dùng, cha mẹ mua, cửa hàng là khách hàng. Ghi chú: ba vai càng tách xa, nhóm làm sản phẩm càng dễ chỉ nghe được vai gần mình nhất. BA VAI XẾP THEO BỐN KIỂU Kiểu 1 · cả ba vai là một Người thợ mộc mua dụng cụ thẳng từxưởng rồi tự dùng. Ngườidùng Người mua Kháchhàng người thợ mộc Kiểu 2 · người mua và ngườidùng là một Hàng tiêu dùng bán qua cửa hàng. Ngườidùng Người mua Kháchhàng người tiêu dùng nhà phânphối,chuỗibán lẻ Kiểu 3 · khách hàng và ngườimua là một Công ty đặt thẳng một lô bình nướcđể tặng nhân viên. Ngườidùng Người mua Kháchhàng từngnhânviên công ty đặt hàng Kiểu 4 · ba vai tách rời Hàng cho trẻ em bán qua cửa hàng. Ngườidùng Người mua Kháchhàng trẻ cha mẹ cửa hàng Ba vai càng tách xa, nhóm làmsản phẩm càng dễ chỉ nghe đượcvai gần mình nhất.
Hình 2. Ba vai xếp theo bốn kiểu, từ cả ba nằm trong một người tới ba người khác nhau.

Hàng làm theo đơn đặt của chủ nhãn cũng thuộc kiểu thứ tư, và có một ca thật bạn tra lại được. Apple công bố danh sách nhà cung cấp của hãng. Theo chính tài liệu ấy, danh sách cho năm tài chính 2023 chiếm 98 phần trăm khoản chi trực tiếp của hãng cho vật liệu, sản xuất và lắp ráp. Trong danh sách có Hon Hai Precision Industry, hay được gọi là Foxconn, và Bắc Giang ở Việt Nam là một trong những nơi công ty này làm hàng cho Apple. Với nhà máy ấy, khách hàng là Apple, bên đặt hàng và trả tiền cho nhà máy. Người mua là người ra cửa hàng chọn một chiếc máy và trả tiền. Người dùng là người cầm máy mỗi ngày, có khi là một người khác, như đứa con được bố mẹ mua cho. Ba vai nằm ở ba nơi, và nhà máy chỉ làm việc thẳng với một trong ba.

Có một quy luật đi kèm bốn kiểu. Ba vai càng tách xa, nhóm làm sản phẩm càng dễ chỉ nghe được vai gần mình nhất. Với nhà sản xuất, vai gần nhất gần như luôn là khách hàng, vì đó là bên họ gặp, ký hợp đồng và nhận tiền. Người dùng ở kiểu thứ tư thường là vai xa nhất, và là vai ít được hỏi nhất.

Bốn kiểu này còn đổi được theo thời gian. Một xưởng xưa nay bán thẳng cho thợ, tức kiểu thứ nhất, khi đưa hàng vào chuỗi bán lẻ thì chuyển sang kiểu thứ hai. Sản phẩm không đổi, nhưng bây giờ có một khách hàng mới chen vào giữa, với những đòi hỏi mà xưởng chưa từng phải nghĩ tới.

4

Ở nhiều công ty, một chữ khách hàng đang được dùng để gọi cả ba vai

Điều viết ở mục này rút từ quan sát riêng của chúng tôi tại các nhà máy trong nước. Giới nghiên cứu chưa kiểm chứng nó, nên bạn nên so với nơi mình làm trước khi dùng.

Nhận định đó là: trong cùng một công ty, chữ khách hàng thường được ba phòng dùng theo ba nghĩa. Phòng kinh doanh gọi đại lý và nhà phân phối là khách hàng, vì đó là người họ gặp và đòi tiền. Phòng tiếp thị gọi người đứng trước kệ là khách hàng. Phòng kỹ thuật, khi nhận phản ánh bảo hành, gọi người dùng là khách hàng. Ở các xưởng làm hàng gia công, chữ khách hàng còn có nghĩa thứ tư: chủ nhãn hàng đặt hàng, tức bên mà người khác gọi là bên đặt gia công.

Chuyện này không phải lỗi dùng chữ của ai. Mỗi phòng dùng đúng với phần việc của mình. Chỗ hỏng chỉ lộ ra khi ba phòng ngồi chung một cuộc họp. Một người nói khách hàng muốn hộp to hơn cho dễ thấy trên kệ. Một người khác nói khách hàng chê sản phẩm nặng. Cả hai đều đúng, nhưng họ đang nói về hai vai, và cuộc họp có thể kết thúc bằng một quyết định mà không ai nhận ra mình vừa chọn vai này bỏ vai kia.

Có một phép thử rất đơn giản. Trong mọi văn bản và mọi cuộc họp về sản phẩm, mỗi lần gặp chữ khách hàng, hãy thử thay nó bằng một trong ba tên vai: người dùng, người mua, hoặc bên đặt hàng. Nếu thay được ngay thì câu đó rõ. Nếu người viết phải nghĩ một lúc mới biết nên thay bằng chữ nào, thì câu đó đang nói về hai vai cùng lúc. Nếu thay xong mà câu nói sai đi, thì người nói đã nhầm vai từ đầu.

Phép thử này không đòi công ty đổi cách gọi. Nó chỉ đòi rằng ở những chỗ quyết định thiết kế, như bản yêu cầu sản phẩm, biên bản duyệt mẫu, báo cáo phản ánh, chữ khách hàng luôn đi kèm tên vai.

Bảng tổng hợp ba vai trong một lần bán

Người dùngNgười muaKhách hàng
Định nghĩangười trực tiếp dùng sản phẩm, sống với nó sau khi muangười quyết chọn và trả tiền ở một lần mua cụ thểbên đặt hàng và trả tiền trực tiếp cho công ty làm ra sản phẩm
Câu hỏi để nhận raai cầm nó lên dùng, ngày này qua ngày khácai chọn cái này thay vì cái khác, rồi trả tiềncông ty mình xuất hoá đơn cho ai
Gặp sản phẩm lúc nàosau khi mua, lặp lại nhiều lầnlúc chọn, thường rất ngắntrước cả người mua, lúc nhận hàng vào danh mục bán
Có thể làmột người, một gia đình, người thợ đứng máychính người dùng, cha mẹ, người tặng quà, phòng mua hàngchính người mua, đại lý, chuỗi bán lẻ, chủ nhãn hàng đặt gia công
Thường bị gọi nhầm làkhách hàng, khi nói về bảo hànhkhách hàng, khi nói về tiếp thịkhách hàng, khi nói về doanh số

Hãy chụp lại bảng này. Ba cột là ba vai, và một người có thể đứng ở hai cột cùng lúc.

Phần giá trị nhất của bài

Chỗ người ta hay làm sai

Coi ba vai là một, vì ở sản phẩm cũ chúng trùng nhau. Một công ty quen bán thẳng cho người tự dùng sẽ quen nghĩ người mua cũng là người dùng. Khi làm sản phẩm cho kênh mới hoặc nhóm khách mới, họ giữ nguyên cách nghĩ ấy. Người ta sai vì kinh nghiệm cũ đúng trong hoàn cảnh cũ, và không ai báo rằng hoàn cảnh đã đổi. Hậu quả rơi vào cả nhóm: họ thiết kế cho một người, trong khi lần bán mới có ba người. Cách tránh là mỗi lần làm sản phẩm mới, hoặc mở kênh bán mới, soi lại ba câu hỏi từ đầu cho đúng lần bán ấy.

Nói khách hàng muốn mà không nói vai nào. Đây là lỗi dễ mắc nhất, vì chữ khách hàng nghe có vẻ đã đủ rõ. Người ta sai vì mỗi người tự hiểu chữ đó theo phần việc của mình, như mục 4 đã nói. Hậu quả rơi vào người làm thiết kế: họ nhận một danh sách yêu cầu trộn lời của ba vai, không biết dòng nào phải ưu tiên, và thường ưu tiên dòng của người nói to nhất trong cuộc họp. Cách tránh là bắt buộc mỗi dòng yêu cầu ghi rõ nó đến từ vai nào và từ người thật nào.

Coi vai là một nhóm người cố định. Có nhóm làm sản phẩm viết người dùng là phụ nữ ba mươi tới bốn mươi tuổi, người mua là nam giới, như thể đó là hai nhóm dân số. Người ta sai vì quen chia khách theo tuổi và giới. Hậu quả là họ bỏ sót những lần bán mà vai đổi chỗ, như cùng người ấy tự mua cho mình, hoặc mua làm quà. Cách tránh là luôn soi vai theo một lần bán cụ thể, rồi mới gom các lần bán giống nhau thành nhóm.

Ví dụ để khái niệm sáng ra

Ví dụ minh hoạ

Bối cảnh chung sau đây quen thuộc ở Việt Nam và không gắn với công ty nào.

Mỗi mùa tựu trường, đồ dùng học tập cho học sinh tiểu học là một lần bán có đủ ba vai tách rời. Người dùng là học sinh: em cầm bút, mở vở, đeo cặp mỗi ngày. Người mua là cha mẹ: họ đứng ở quầy, so giá, so độ bền, chọn món nào con thích mà mình thấy đáng tiền. Khách hàng của nhà sản xuất thường là nhà sách và cửa hàng văn phòng phẩm: bên đó đặt hàng, nhận hoá đơn, và quyết món nào được bày lên kệ.

Bối cảnh này còn cho thấy trước một vai mà bài 4 sẽ nói kỹ. Nhiều trường gửi danh sách đồ dùng đầu năm. Nhà trường không dùng, không mua, không đặt hàng, nhưng ảnh hưởng thẳng tới lần mua.

Điều rút ra: ngay cả một cây bút cũng có thể có ba người chấm, và mỗi người chấm vào một lúc khác nhau.

Nguồn

Đọc thêm

Của MES LAB

Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, bài 1 — nói vì sao câu làm cái gì cho ai là phần việc riêng của nghề phát triển sản phẩm. Bài này bắt đầu từ chỗ bài đó dừng lại.

Bài 2 của lớp này, nói mỗi vai chấm sản phẩm lúc nào và chấm bằng thước đo gì — đọc tiếp ngay sau bài này.

Bên ngoài

"Marketing Management", Philip Kotler và Kevin Lane Keller — giáo trình tiếp thị dùng rộng ở nhiều trường, có phần chia một quyết định mua thành nhiều vai như người khởi xướng, người ảnh hưởng, người quyết định, người mua và người dùng.

"Value Proposition Design", Alexander Osterwalder và các đồng tác giả — sách về cách mô tả người được phục vụ trước khi thiết kế; đọc để thấy vì sao cần mô tả riêng cho từng vai khi người mua và người dùng không phải một người.

Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.

Facebook