m.school › Người dùng, khách hàng và người mua — ba người khác nhau › bài 2
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Một người đứng trước kệ chọn một chiếc hộp đựng thực phẩm. Theo bài, ở lúc chọn, người mua không chấm được thứ nào?
Ở lúc chọn, người mua chỉ chấm được những thứ nhìn thấy, đọc thấy hoặc cầm thử được trong chốc lát. Những thứ như dễ lau, có ồn không, sau ba tháng có lỏng chỗ nào không thì họ phải đoán. Xem mục 1.
Câu 2. Sản phẩm của bạn có một phẩm chất tốt chỉ lộ ra khi dùng: rửa rất nhanh. Theo bài, muốn người mua tính tới phẩm chất này thì nên làm gì?
Những phẩm chất chỉ lộ ra khi dùng thì không tự bán được hàng. Muốn người mua tính tới chúng, sản phẩm phải làm cho chúng nhìn thấy được ở lúc chọn. Xem mục 1.
Câu 3. Theo bài, khi khách hàng là một bên trung gian, lời chấm của ba vai về tới công ty theo thứ tự nào, từ nhanh tới chậm?
Khách hàng chấm trước, người mua chấm sau, người dùng chấm cuối. Lời chấm của khách hàng về nhanh và rõ nhất qua đơn hàng; của người mua về qua số bán; của người dùng về chậm nhất, có khi không về. Xem mục 3 và mục 4.
Câu 4. Trong bản yêu cầu sản phẩm, một dòng phục vụ cửa hàng là bọc kín bao bì cho khỏi mất cắp, còn một dòng phục vụ người dùng là mở dễ ở nhà. Hai dòng đá nhau. Theo bài, nên xử lý thế nào?
Sản phẩm phải qua được cả cửa vào kênh bán, cửa lúc mua và cửa lúc dùng. Khi hai dòng của hai vai đá nhau, đó là một quyết định phải được đưa ra công khai, có người ký, không để nó tự được quyết trong lúc vẽ. Xem mục 4.
Câu 5. Đội đem mẫu vào phòng họp, mời vài người cầm lên ngắm khoảng mười phút rồi ghi ý kiến. Theo bài, ý kiến này nên được coi là gì?
Người cầm mẫu ngắm mười phút đang ở đúng lúc chọn của người mua. Muốn biết lúc dùng thì phải để người ta dùng mẫu trong đúng hoàn cảnh của họ, nhiều ngày. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy sản phẩm bạn đã dùng ở bài tập của bài 1. Kẻ lại bảng tổng hợp với ba cột ba vai, và điền hai hàng đầu cho đúng sản phẩm ấy: mỗi vai chấm lúc nào, chấm bằng những gì. Mỗi ô ghi ít nhất hai thứ cụ thể. Sau đó điền hàng thứ tư: trong ba tháng vừa qua, công ty bạn đã nhận được lời chấm nào của từng vai, qua đường nào. Cuối cùng, tìm một chỗ trên sản phẩm mà thứ một vai muốn làm khó cho vai khác, và ghi ai đã quyết chỗ đó.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: ô của người dùng ghi những thứ chỉ biết được sau khi dùng nhiều lần, không phải những thứ thấy được ngay. Ở hàng thứ tư, bạn chỉ ra được ít nhất một lời chấm thật của người dùng, có ngày và có nguồn. Và chỗ kéo ngược bạn tìm ra có tên người đã quyết. Dấu hiệu còn sai: ô người dùng và ô người mua ghi gần như giống nhau, vì bạn chưa tách được hai lúc chấm. Ô người dùng ở hàng thứ tư để trống, tức là lời chấm của vai này chưa về tới công ty. Hoặc chỗ kéo ngược không ai quyết, nó tự được quyết trong lúc vẽ.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: hộp nhựa đựng thực phẩm bán qua chuỗi siêu thị. Khách hàng chấm lúc nhận hàng vào danh mục, bằng thùng xếp chồng được và tỉ lệ trả về thấp. Người mua chấm ở kệ, bằng giá một bộ và nắp trong suốt nhìn thấy bên trong. Người dùng chấm sau nhiều tuần, bằng nắp có còn kín sau nhiều lần rửa và có ám mùi không. Lời chấm ba tháng qua: chuỗi siêu thị gửi yêu cầu giảm cỡ thùng, số bán theo tháng có đủ, còn của người dùng chỉ có vài cuộc gọi về nắp bị cong sau khi rửa bằng nước nóng. Chỗ kéo ngược: nắp làm mỏng hơn cho hạ giá một bộ thì dễ cong. Người quyết là trưởng phòng kỹ thuật, theo đề nghị giảm giá của phòng kinh doanh, và quyết định ấy chưa ghi vào văn bản nào.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 đặt định nghĩa cho ba vai. Bài này hỏi tiếp: mỗi vai dựa vào đâu để nói có hay không với một sản phẩm. Câu trả lời ngắn là mỗi vai chấm vào một lúc khác nhau, và ở lúc đó họ chỉ nhìn thấy được một phần của sản phẩm. Bài này đi lần lượt từng vai, rồi nói chuyện gì xảy ra khi ba thước đo không cùng chiều.
Người mua gặp sản phẩm ở lúc chọn (point of purchase): đứng trước kệ hàng, lướt một trang bán hàng trên mạng, hoặc xem một bảng báo giá. Lúc này thường rất ngắn. Sách của chúng tôi gói nó vào hình ảnh vài giây đứng trước kệ. Đó là một hình ảnh để nhớ, không phải một con số đã đo.
Ở lúc chọn, người mua chỉ chấm được những thứ nhìn thấy, đọc thấy hoặc cầm thử được trong chốc lát. Đó là hình dáng và màu sắc. Đó là giá, và giá đặt cạnh những món bày bên cạnh. Đó là thương hiệu và lời hứa in trên hộp. Và đó là cảm giác an tâm: món này có đáng tin không, mua rồi có phải hối không. Sách giáo trình của chúng tôi, khi bàn về việc mô tả người được phục vụ ở thị trường Việt Nam, tóm thước đo của người mua đúng vào ba chữ: giá, uy tín, và sự an tâm khi mua.
Có những thứ người mua không chấm được ở lúc chọn, dù họ rất muốn. Họ không biết món đồ có dễ lau không, có ồn không, sau ba tháng có lỏng chỗ nào không. Họ phải đoán những thứ đó từ những gì nhìn thấy: hộp đẹp thì chắc hàng tốt, nặng tay thì chắc bền. Cái đoán này có khi đúng, có khi sai.
Khi mua trên mạng, người mua có thêm một nguồn để đoán: lời đánh giá của những người đã dùng. Đây là một trong số ít đường mà lời chấm của người dùng đi tới được người mua kế tiếp khá nhanh. Nhưng nó vẫn chỉ là lời của người khác, đọc vội ở lúc chọn. Người mua đọc số sao và vài dòng đầu, rồi quyết. Những chỗ vướng mà người dùng chỉ nhắc ở dòng thứ mười thì người mua kế tiếp thường không đọc tới.
Điều đó dẫn tới một hệ quả cho người thiết kế. Những phẩm chất chỉ lộ ra khi dùng thì không tự bán được hàng. Nếu muốn người mua tính tới chúng, sản phẩm phải làm cho chúng nhìn thấy được ở lúc chọn: một nắp tháo ra được ngay trên kệ, một dòng nói rõ rửa được bằng máy, một mẫu để cầm thử.
Người dùng gặp sản phẩm ở lúc dùng, và lúc này không phải một lần mà là rất nhiều lần. Sách của chúng tôi đặt hình ảnh vài giây ở kệ cạnh hình ảnh hàng trăm ngày ở nhà. Mua chỉ diễn ra một lần, còn dùng thì lặp lại mãi.
Người dùng chấm bằng những thứ người mua không thấy được. Mất bao lâu để rửa sạch. Cầm có mỏi tay không. Bỏ vào đâu cho vừa. Hỏng ở chỗ nào trước, và khi hỏng thì sửa ra sao. Mỗi thứ nhỏ, nhưng nó lặp lại mỗi ngày, nên một chỗ hơi vướng lúc đầu có thể thành lý do để thôi dùng sau vài tháng.
Lời chấm của người dùng không về công ty ngay. Nó về theo những đường chậm và gián tiếp: người ấy có mua lại không, có giới thiệu cho người quen không, có viết đánh giá không, có gọi bảo hành hay trả hàng không. Có khi nó không về chút nào. Người dùng không hài lòng thường chỉ lặng lẽ thôi dùng, rồi lần sau chọn một hãng khác.
Đây là chỗ cần nói rõ khi người dùng khác người mua. Khi đó lời chấm của người dùng phải đi qua thêm một người nữa mới tới được lần mua sau. Một đứa trẻ thấy cặp quá nặng phải nói với cha mẹ. Một người thợ thấy máy khó chỉnh phải nói với phòng mua hàng. Mỗi lần đi qua thêm một người, lời chấm lại yếu đi một chút, và nhiều khi dừng hẳn ở đó.
Hệ quả cho nhóm làm sản phẩm là lời chấm của người dùng gần như không bao giờ tự tìm về. Muốn có nó thì phải đi lấy: gọi lại một số người mua sau vài tuần để hỏi ai đang dùng và dùng ra sao, đọc kỹ phiếu bảo hành theo từng chỗ hỏng, hoặc tới tận nơi xem sản phẩm được dùng thế nào. Không có những việc đó thì công ty chỉ biết về người dùng qua lời kể lại của hai vai kia.
Khi khách hàng là một bên trung gian, như nhà phân phối, chuỗi bán lẻ, hay chủ nhãn hàng đặt gia công, thì họ là vai chấm sớm nhất. Họ chấm ở lúc quyết có nhận sản phẩm vào danh mục bán hay không, trước khi người mua kịp nhìn thấy nó.
Thước đo của khách hàng là thước đo của một việc kinh doanh. Món này có dễ bán không. Lãi trên mỗi món là bao nhiêu. Nó chiếm bao nhiêu chỗ trong kho và trên kệ. Thùng hàng có xếp chồng được, có chịu được vận chuyển không. Hàng có hay bị trả về, có tốn công bảo hành không. Ở cửa hàng, có thêm một câu nữa: món này có dễ bị lấy cắp không.
Với xưởng làm hàng gia công, khách hàng là chủ nhãn hàng, và họ chấm theo một cách hơi khác. Họ chấm xưởng bằng giá gia công, bằng việc lô hàng giống hệt mẫu đã duyệt, và bằng việc giao đúng hạn. Họ ít khi đưa cho xưởng lời chấm của người dùng cuối, vì lời đó về tay họ chứ không về tay xưởng. Nên một xưởng gia công có thể làm hài lòng khách hàng của mình suốt nhiều năm mà không biết người dùng sản phẩm của mình nghĩ gì về nó.
Khách hàng không chấm sai khi dùng những thước đo này. Đó đúng là việc của họ. Nhưng phần lớn những thứ họ chấm nằm ngoài thân sản phẩm: bao bì, thùng, kích thước khi đóng gói, chính sách đổi trả. Vì vậy nhóm thiết kế hay coi đó không phải việc của mình, và chỉ nghe tới khi mẫu đã xong.
Lời chấm của khách hàng về công ty nhanh nhất và rõ nhất trong ba vai. Nó về qua đơn đặt hàng, qua cuộc gặp của phòng kinh doanh, qua yêu cầu sửa bao bì trước khi nhận hàng. Chính vì nó nhanh và rõ, nó dễ lấn át hai lời chấm còn lại, như bài 1 đã nói: vai đứng gần công ty nhất thường là vai được nghe nhiều nhất.
Đặt ba mục trên cạnh nhau, bạn thấy một thứ tự. Khách hàng chấm trước, người mua chấm sau, người dùng chấm cuối. Còn lời chấm của các vai thì về tới công ty theo thứ tự ngược lại: của khách hàng về nhanh nhất, của người dùng về chậm nhất.
Phần lớn thời gian, ba thước đo đi cùng chiều. Một món đồ tốt khi dùng thường cũng ít bị trả về, nên khách hàng cũng vui. Nhưng có những chỗ chúng kéo ngược nhau, và đó là chỗ cần để ý. Bao bì bọc kín cho khỏi mất cắp ở cửa hàng thì khó mở ở nhà. Hộp to cho nổi bật trên kệ thì tốn chỗ trong kho. Thêm nhiều tính năng cho trang bán hàng có thêm dòng để kể thì làm sản phẩm khó dùng hơn.
Sách của chúng tôi chốt nguyên lý ở chỗ này: sản phẩm phải qua được cả hai cửa, cửa lúc mua và cửa lúc dùng. Thắng cửa này mà thua cửa kia vẫn là thua. Khi khách hàng là bên trung gian, có thêm cửa thứ ba là cửa vào kênh bán. Không qua cửa này thì người mua không bao giờ thấy sản phẩm, dù nó tốt tới đâu.
Một cách làm cho nguyên lý này thành việc cụ thể: với mỗi dòng trong bản yêu cầu sản phẩm, hãy ghi dòng đó phục vụ vai nào. Rồi soi ngược lại: mỗi vai có ít nhất một dòng mà nếu thiếu thì vai đó nói không hay chưa. Nếu một vai không có dòng nào, thì sản phẩm đang được làm như thể vai ấy không tồn tại. Còn khi hai dòng của hai vai đá nhau, thì đó là một quyết định phải được đưa ra công khai, có người ký, chứ không để nó tự được quyết trong lúc vẽ.
| Khách hàng | Người mua | Người dùng | |
|---|---|---|---|
| Chấm lúc nào | sớm nhất, lúc quyết nhận hàng vào danh mục bán | lúc chọn, thường rất ngắn | lúc dùng, lặp lại nhiều lần trong nhiều tháng |
| Chấm bằng gì | dễ bán, lãi, chỗ kho và kệ, vận chuyển, ít trả về | hình dáng, giá, thương hiệu, lời hứa trên hộp, sự an tâm | dễ dùng, dễ lau, bền, vừa chỗ, hỏng ra sao |
| Không thấy được gì | sản phẩm sống ra sao trong tay người dùng | những phẩm chất chỉ lộ ra khi dùng | lý do người mua đã chọn món này |
| Lời chấm về công ty qua đâu | đơn đặt hàng, cuộc gặp của phòng kinh doanh | số bán, tỉ lệ chọn so với món bên cạnh | mua lại, giới thiệu, đánh giá, bảo hành, trả hàng |
| Về nhanh hay chậm | nhanh và rõ nhất | khá nhanh, qua số bán | chậm nhất, có khi không về |
Bảng đọc theo hàng: hàng nào ba ô kéo ngược nhau thì đó là chỗ phải quyết công khai.
Đo thành công bằng số bán của những tháng đầu. Số bán tháng đầu đo được hai cửa: khách hàng đã nhận hàng, và người mua đã chọn. Nó chưa đo được cửa thứ ba, là người dùng có còn dùng không. Người ta sai vì số bán về nhanh và dễ trình bày, còn số mua lại phải chờ nhiều tháng. Hậu quả rơi vào cả công ty: đội thiết kế được khen đúng lúc sản phẩm bắt đầu mất người dùng, và lần làm tiếp theo lặp lại đúng chỗ sai đó. Cách tránh là ngay từ lúc đặt mục tiêu, ghi thêm một con số chỉ người dùng mới tạo ra được, như tỉ lệ mua lại hoặc số lần gọi bảo hành, và hẹn ngày đọc nó.
Đem mẫu ra phòng họp hỏi ý kiến rồi tưởng đã nghe người dùng. Khi người ta cầm một mẫu lên ngắm trong mười phút, họ đang ở đúng lúc chọn của người mua. Họ chấm được hình dáng và cảm giác cầm, nhưng không chấm được chuyện dùng nó ba tháng. Người ta sai vì một buổi xem mẫu trông rất giống một buổi tìm hiểu người dùng. Hậu quả rơi vào người dùng thật, vì những chỗ vướng khi dùng lặp lại không ai thấy cho tới lúc hàng đã ra. Cách tránh là tách hai việc: xem mẫu thì ghi là ý kiến lúc chọn, còn muốn biết lúc dùng thì phải để người ta dùng mẫu trong đúng hoàn cảnh của họ, nhiều ngày.
Coi đòi hỏi của khâu bán là không phải việc của thiết kế. Bao bì, thùng, cách bày, cách vận chuyển thường được giao cho phòng khác sau khi thiết kế xong. Người ta sai vì những thứ này nằm ngoài thân sản phẩm. Hậu quả rơi vào dự án: mẫu đã chốt bị khách hàng trả lại vì không vừa kệ hoặc vỡ khi vận chuyển, và phải sửa lúc đã tốn tiền làm khuôn. Cách tránh là đưa mẫu thô cho phòng kinh doanh hoặc một khách hàng trung gian xem sớm, lúc thiết kế còn sửa rẻ.
Ví dụ dưới đây có thông cáo báo chí công khai của chính hãng, đăng ngày 3 tháng 11 năm 2008, nên bạn tra lại được.
Nhiều món điện tử nhỏ và đồ chơi từng được bán trong vỉ nhựa cứng hàn kín (clamshell). Thông cáo của Amazon nói loại vỉ này có mục đích chống lấy cắp ở cửa hàng. Lớp nhựa trong còn cho người mua nhìn thấy món hàng ngay trên kệ. Đó là thước đo của khách hàng là cửa hàng, và của người mua đứng trước kệ. Người dùng thì phải cắt mở vỉ ở nhà, và khó mở tới mức tiếng Anh có hẳn một chữ cho cơn bực này: wrap rage.
Tháng 11 năm 2008, Amazon mở chương trình Frustration-Free Packaging, tạm hiểu là bao bì không gây bực. Hàng bán qua mạng không phải nằm trên kệ, nên không cần chống lấy cắp ở cửa hàng. Món hàng được gửi trong hộp bìa cứng tái chế, dễ mở, còn chính sản phẩm giữ nguyên.
Điều rút ra: khi khách hàng đổi thì thước đo đổi, và một chỗ kéo ngược với người dùng có thể biến mất.
Của MES LAB
Bài 1 của lớp này, đặt định nghĩa cho ba vai và chỉ cách nhận ra từng vai trong một lần bán — đọc lại nếu bạn còn lẫn giữa người mua và khách hàng.
Lớp Làm sao biết người ta thật sự cần gì, mã NC-01, đã mở — nói vì sao muốn biết người dùng chấm sản phẩm thế nào thì phải nhìn chuyện đã xảy ra, không chỉ hỏi ý kiến.
Bên ngoài
"The Design of Everyday Things", Don Norman — sách về thiết kế lấy người dùng làm gốc, nói vì sao những chỗ khó dùng hay chỉ lộ ra khi dùng thật, không lộ ra khi ngắm.
Thông cáo báo chí của Amazon ngày 3 tháng 11 năm 2008 về chương trình Frustration-Free Packaging, đăng trên trang tin chính thức của hãng — nguồn gốc của ví dụ trong bài.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.