m.school › Người dùng, khách hàng và người mua — ba người khác nhau › bài 3
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Bạn đọc bản yêu cầu của một sản phẩm sắp mở khuôn và thấy gần như mọi dòng đều kiểm được bằng mắt trong một buổi duyệt mẫu. Theo bài, đây là dấu hiệu sớm của kiểu sai nào?
Nếu gần như không có dòng nào chỉ kiểm được bằng cách dùng nhiều ngày, thì bản yêu cầu đang được viết cho người mua, những thứ chỉ lộ ra khi dùng không được ai chăm. Xem mục 1.
Câu 2. Một chiếc cặp học sinh nhẹ và êm vai, trẻ dùng thử đều khen. Nhưng nó đắt hơn và trông không bền hơn cặp bên cạnh, nên cha mẹ ít chọn. Theo bài, cách chữa đúng là gì?
Đây là kiểu thiết kế tốt cho người dùng mà quên cho người mua một lý do để trả tiền. Cách chữa không phải bỏ bớt chất lượng khi dùng, mà là cho người mua thấy cái tốt ở lúc chọn và có một lợi ích cho chính họ. Thêm lời khen của người dùng thử không giải được chỗ này. Xem mục 2.
Câu 3. Mục tiêu ra mắt của một sản phẩm chỉ ghi số thùng giao cho các đại lý, và kế hoạch không ghi ai sẽ đo tốc độ hàng rời kệ. Theo bài, rủi ro ở đây là gì?
Đây là dấu hiệu sớm của kiểu thiết kế cho khách hàng trung gian. Hàng bán vào kênh đã tính là doanh số, nhưng chưa nói được người mua có chọn hay không. Xem mục 3.
Câu 4. Bạn soi từng dòng người dùng cần trong bản yêu cầu và hỏi ai đã nói câu này, nói ở đâu, ngày nào. Câu trả lời luôn là đại lý hoặc phòng kinh doanh kể lại. Theo bài, điều này cho thấy gì?
Đây là kiểu sai thứ tư. Người nói thay có thể thật lòng, nhưng họ nói bằng thước đo của vai họ đang đóng, như đại lý thì kể những lời phàn nàn làm đại lý tốn công. Xem mục 4.
Câu 5. Một sản phẩm bán kém, và cuộc họp đang định sửa thiết kế hoặc dừng hẳn. Theo bài, trước khi kết luận nên làm gì?
Sản phẩm có thể chưa từng thất bại ở người dùng, vì gần như chưa ai dùng nó. Hỏi đủ ba câu theo thứ tự, sai ở câu nào thì sửa ở đúng chỗ đó. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy sản phẩm bạn đã dùng ở bài tập của bài 1 và bài 2, hoặc một sản phẩm đang trong giai đoạn thiết kế. Mở bản yêu cầu sản phẩm, hoặc biên bản của buổi duyệt mẫu gần nhất. Với mỗi kiểu sai trong bảng tổng hợp, trả lời câu hỏi ở hàng cuối, và ghi bằng chứng bạn tìm thấy trong hồ sơ, không ghi theo trí nhớ. Sau đó ghi dự án đang mang dấu hiệu của kiểu nào, hoặc ghi rõ là chưa thấy dấu hiệu nào.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: mỗi câu trả lời chỉ ra được một dòng, một trang hoặc một biên bản cụ thể. Với kiểu 4, bạn ghi được tên người đã nói, ngày, và người đó đóng vai nào. Dấu hiệu còn sai: bạn trả lời cả bốn câu là không có vấn đề nhưng không chỉ ra được bằng chứng nào. Hoặc bạn ghi dự án mắc cả bốn kiểu, mà không phân biệt kiểu nào nặng hơn và vì sao.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: hộp nhựa đựng thực phẩm bán qua chuỗi siêu thị. Kiểu 1: bản yêu cầu có mười hai dòng, chỉ hai dòng kiểm được khi dùng nhiều ngày, là nắp còn kín sau nhiều lần rửa và không ám mùi. Dấu hiệu nhẹ. Kiểu 2: chưa thấy, vì đội nói được lý do chọn là nắp trong nhìn thấy bên trong. Kiểu 3: mục tiêu ra mắt chỉ ghi số thùng giao cho chuỗi, không ai được giao đo hàng rời kệ. Dấu hiệu rõ. Kiểu 4: trong hồ sơ chỉ có một lời của người dùng, là câu nắp hay cong, do phòng kinh doanh kể lại từ chuỗi siêu thị. Dấu hiệu rõ. Kết luận: dự án nghiêng về kiểu 3 và kiểu 4, đúng như bảng tổng hợp nói là hay đi cùng nhau.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài 1 đặt định nghĩa cho ba vai. Bài 2 nói mỗi vai chấm sản phẩm lúc nào và bằng gì. Bài này nói chuyện gì xảy ra khi nhóm làm sản phẩm chỉ nghe một vai, hoặc nghe nhầm vai. Có bốn kiểu sai hay gặp. Mỗi kiểu có một triệu chứng khi hàng đã ra thị trường, nhưng điều đáng học hơn là dấu hiệu sớm: thứ đã nhìn thấy được trong hồ sơ dự án, lúc thiết kế còn sửa được.
Đây là kiểu sai được nói tới nhiều nhất. Sản phẩm được làm rất kỹ cho lúc chọn: dáng đẹp, màu sang, hộp nổi bật, lời hứa trên bao bì rõ ràng. Nhưng những thứ chỉ lộ ra khi dùng, như dễ lau, nhẹ tay, bền ở chỗ hay hỏng, lại không được ai chăm.
Triệu chứng khi hàng đã ra thị trường thì dễ nhận: số bán những tháng đầu tốt, rồi số người mua lần hai thấp, và lời đánh giá lặp lại cùng một ý là nhìn đẹp mà dùng cực. Sách gốc của chúng tôi gói kiểu sai này vào một câu: thắng lúc ở kệ mà thua lúc ở nhà thì vẫn là thua. Thư viện tình huống mà chúng tôi lưu, đã ẩn danh, có nhiều ca cùng một gốc: đội coi thiết kế là tạo dáng cho đẹp lúc mua, và không ai trong đội được giao việc theo dõi trải nghiệm dùng lặp lại.
Dấu hiệu sớm thì nằm trong hồ sơ, trước ngày mở khuôn. Bạn có thể soi bằng ba câu hỏi. Thứ nhất, trong bản yêu cầu sản phẩm, có bao nhiêu dòng chỉ kiểm được bằng cách dùng sản phẩm nhiều ngày? Nếu gần như mọi dòng đều kiểm được bằng mắt trong một buổi duyệt mẫu, thì bản yêu cầu đang được viết cho người mua. Thứ hai, những buổi duyệt mẫu đã qua có buổi nào mẫu được đem về dùng thật, hay toàn là đặt lên bàn ngắm? Thứ ba, khi đội tranh luận về một chi tiết, lý lẽ thắng thường là trông đẹp hơn hay dùng dễ hơn?
Cần nói rõ một điều để tránh hiểu sai. Chăm cho lúc chọn không phải là lỗi. Người mua phải chọn được thì người dùng mới có sản phẩm để dùng. Lỗi chỉ nằm ở chỗ những thứ làm cho lúc chọn đẹp hơn lại lấy đi của lúc dùng, như một bề mặt nhiều khe để trông sang nhưng khó rửa, mà không ai nhìn thấy chỗ đánh đổi đó.
Kiểu này ngược với kiểu thứ nhất, và ít được nói tới hơn, vì nó thường xảy ra ở những đội rất chăm chỉ đi tìm hiểu người dùng. Sản phẩm dùng rất tốt. Người được mời dùng thử khen thật lòng. Nhưng khi đặt lên kệ, hoặc lên trang bán hàng, nó không được chọn.
Lý do thường là một trong hai. Lý do thứ nhất: những phẩm chất làm nên giá trị của sản phẩm chỉ lộ ra sau nhiều ngày dùng, và ở lúc chọn không có gì cho người mua thấy được điều đó. Như bài 2 đã nói, người mua chỉ chấm được những thứ nhìn thấy, đọc thấy hoặc cầm thử được trong chốc lát. Lý do thứ hai: người dùng và người mua là hai người, và người mua không được gì từ cái lợi mà người dùng nhận. Một chiếc cặp nhẹ hơn, êm vai hơn là lợi của đứa trẻ, nhưng nếu nó đắt hơn và trông không bền hơn thì cha mẹ, là người trả tiền, không có lý do để chọn.
Dấu hiệu sớm của kiểu này cũng nằm trong hồ sơ. Một là đội không nói được trong một câu ngắn, bằng chữ của người mua, vì sao người ta chọn món này thay vì món bên cạnh. Hai là mọi bằng chứng mà đội có đều là lời của người dùng thử, chưa có lần nào hỏi một người mua thật xem họ có trả đúng mức giá này không. Ba là đội chưa trả lời câu: phẩm chất chính của sản phẩm sẽ được cho người mua thấy bằng cách nào, ở đúng lúc chọn.
Cách chữa không phải là bỏ bớt chất lượng khi dùng để dồn sức vào vẻ ngoài. Cách chữa là tìm cách làm cho cái tốt khi dùng nhìn thấy được ở lúc chọn, và tìm một lợi ích mà chính người mua nhận được.
Kiểu này chỉ có khi khách hàng là một bên trung gian: nhà phân phối, đại lý, chuỗi bán lẻ. Tài liệu kinh doanh phân biệt hai con số. Hàng bán vào kênh (sell-in) là lượng hàng công ty giao cho khách hàng trung gian, và đã được tính là doanh số của công ty. Hàng bán ra khỏi kênh (sell-out) là lượng hàng thật sự rời kệ, tới tay người mua.
Kiểu sai thứ ba xảy ra khi sản phẩm được làm để thuyết phục khách hàng trung gian nhận hàng: chiết khấu tốt, thùng gọn, mẫu mã nhiều để phủ kệ. Hàng vào kênh rất nhanh, và báo cáo doanh số quý đầu đẹp. Nhưng người mua đứng trước kệ không chọn nó, hoặc chọn một lần rồi thôi. Hàng nằm lại trong kho của đại lý, và tới lần đặt hàng thứ hai thì không còn ai đặt.
Sách của chúng tôi chỉ ra một điều nguy hiểm ở kiểu này. Khi sản phẩm bị dừng, cuộc họp thường kết luận sản phẩm thất bại. Nhưng nhiều khi nó chưa từng thất bại ở người dùng, vì gần như chưa ai dùng nó. Nó thất bại ở khoảng giữa cửa vào kênh và tay người mua, chỗ mà không ai được giao việc theo dõi.
Dấu hiệu sớm: mục tiêu ra mắt chỉ ghi bằng số hàng giao vào kênh, không có con số nào về hàng rời kệ. Kế hoạch không ghi ai sẽ đo tốc độ hàng rời kệ, đo ở đâu, bao lâu một lần. Và trong bản yêu cầu sản phẩm, phần lớn những thay đổi cuối cùng đều đến từ góp ý của khách hàng trung gian, không có thay đổi nào đến từ người mua hay người dùng.
Kiểu sai này không có nghĩa là phải bỏ qua đòi hỏi của khách hàng trung gian. Bài 2 đã nói đó là một cửa phải qua. Nó chỉ có nghĩa là qua được cửa đó mới là bắt đầu, chưa phải xong.
Ba kiểu trên là nghe một vai và bỏ quên vai khác. Kiểu thứ tư tinh vi hơn: đội nghĩ mình đang nghe người dùng, nhưng thật ra đang nghe một người khác nói thay cho người dùng.
Người nói thay có thể là đại lý, kể lại điều khách phàn nàn. Có thể là phòng mua hàng của một tổ chức, nói công nhân cần gì. Có thể là chủ nhãn hàng đặt gia công, chuyển lại yêu cầu mà họ nghĩ là của người tiêu dùng. Hoặc có thể là chính ban giám đốc trong buổi duyệt mẫu. Những người này thường thật lòng, và nhiều khi họ biết rất nhiều. Nhưng họ nói bằng thước đo của vai họ đang đóng. Đại lý kể lại những lời phàn nàn làm đại lý tốn công. Phòng mua hàng nói về những thứ đo được trên giấy.
Thư viện tình huống của chúng tôi có ca mang đúng nguyên lý này: nghiên cứu toàn hỏi người mua, đại lý và phòng mua hàng, không có buổi nào xem người dùng thật cầm sản phẩm lên dùng. Kết quả là người duyệt mẫu thích, còn người dùng thật thì chê. Gốc của nó là không tách người trả tiền khỏi người dùng hằng ngày, nên nhắm nhầm vào người mua.
Dấu hiệu sớm của kiểu này dễ soi nhất trong bốn kiểu. Lấy bản yêu cầu sản phẩm, và với mỗi dòng nói người dùng cần, hãy hỏi: ai đã nói câu này, nói ở đâu, ngày nào. Nếu câu trả lời luôn là đại lý, là phòng kinh doanh, là cuộc họp với khách hàng, thì đội chưa nghe người dùng lần nào. Dấu hiệu thứ hai: đội không kể được một lần nào mình đã đứng xem một người dùng thật dùng sản phẩm, hoặc dùng sản phẩm cũ mà sản phẩm mới sẽ thay.
| Kiểu 1 · cho người mua, quên người dùng | Kiểu 2 · cho người dùng, quên người mua | Kiểu 3 · cho khách hàng trung gian | Kiểu 4 · nghe người nói thay | |
|---|---|---|---|---|
| Vai bị bỏ quên | người dùng | người mua | người mua và người dùng | người dùng, dù đội tưởng đã nghe |
| Triệu chứng khi đã ra thị trường | bán đầu tốt, mua lần hai thấp, chê khó dùng | dùng thử khen, nhưng ít người chọn | hàng vào kênh nhanh, nằm lại trong kho đại lý | người duyệt mẫu thích, người dùng thật chê |
| Dấu hiệu sớm trong hồ sơ | bản yêu cầu toàn dòng kiểm được bằng mắt | không nói được lý do chọn bằng chữ của người mua | mục tiêu chỉ ghi số hàng giao vào kênh | lời người dùng đều do người khác kể lại |
| Câu hỏi để soi | dòng nào chỉ kiểm được khi dùng nhiều ngày | người mua thấy cái tốt này ở đâu, lúc nào | ai đo hàng rời kệ, bao lâu một lần | ai đã nói câu này, nói ở đâu, ngày nào |
Một dự án có thể mang dấu hiệu của hai kiểu cùng lúc. Kiểu 3 và kiểu 4 hay đi cùng nhau, vì cùng xuất phát từ việc khách hàng trung gian là vai mà đội gặp thường xuyên hơn hẳn hai vai kia.
Sửa kiểu sai này bằng cách rơi sang kiểu sai đối diện. Một đội vừa có sản phẩm đẹp mà khó dùng thường quyết lần sau sẽ chỉ chăm người dùng. Họ làm ra một sản phẩm dùng rất tốt nhưng trông tầm thường và không nói được lý do để chọn. Người ta sai vì bài học của lần trước được rút ra thành một câu ngắn kiểu từ nay ưu tiên người dùng, chứ không phải thành câu đúng hơn là phải qua cả hai cửa. Hậu quả rơi vào dự án tiếp theo: nó thua ở cửa khác, và đội kết luận rằng cách làm nào cũng không ăn thua. Cách tránh là khi rút bài học, ghi rõ cửa nào đã thua và cửa nào đã qua, để lần sau giữ cửa đã qua.
Đọc con số của vai này như con số của vai khác. Hàng bán vào kênh là lời chấm của khách hàng trung gian. Hàng rời kệ là lời chấm của người mua. Chỉ có việc người ta mua lại, dùng tiếp, giới thiệu cho người khác mới là lời chấm của người dùng. Bài 2 đã nói về chuyện đo thành công quá sớm. Chỗ sai ở đây khác: ngay cả khi đã chờ đủ lâu, người ta vẫn đem con số của một vai ra trả lời câu hỏi về vai khác. Hậu quả rơi vào những người quyết định đầu tư: họ tưởng người dùng hài lòng trong khi chỉ mới biết người mua đã chọn. Cách tránh là mỗi con số trong báo cáo ra mắt đều ghi rõ nó là lời chấm của vai nào.
Kết luận sản phẩm hỏng khi nó chưa tới tay người dùng. Khi một sản phẩm bán kém, phản xạ thường là sửa sản phẩm hoặc dừng hẳn. Người ta sai vì sản phẩm là thứ nhìn thấy được, còn khoảng giữa kho đại lý và tay người mua thì không ai nhìn. Hậu quả rơi vào cả đội thiết kế, vì một sản phẩm có thể tốt bị bỏ đi, và bài học sai được mang sang dự án sau. Cách tránh là trước khi kết luận, hỏi đủ ba câu theo thứ tự: hàng đã vào kênh chưa, đã rời kệ chưa, và người đã mua có còn dùng không. Sai ở câu nào thì sửa ở đúng chỗ đó.
Ví dụ dưới đây lấy từ trang hỏi đáp công khai của chính một hãng thức ăn cho vật nuôi lớn, nên bạn tra lại được.
Thức ăn cho chó là một sản phẩm có người dùng và người mua tách rời hẳn: con chó ăn, còn người chủ chọn và trả tiền. Trang hỏi đáp của Purina ở châu Âu trả lời khá thẳng câu hỏi vì sao thêm màu vào thức ăn cho chó. Hãng giải thích rằng thức ăn mất màu trong quá trình chế biến, nên hãng dùng màu không phải màu nhân tạo để giữ vẻ ngoài hấp dẫn và đồng đều. Hãng cũng viết rằng chó không phân biệt màu theo cách con người phân biệt, còn chủ nuôi thì muốn thức ăn của con vật trông ngon miệng như đĩa thức ăn của chính mình.
Nói theo ngôn ngữ của lớp này, màu sắc là một phẩm chất làm cho người mua, không làm cho người dùng. Nó không phải kiểu sai thứ nhất, vì nó không lấy đi gì của con chó.
Điều rút ra: mỗi phẩm chất của sản phẩm nên được hỏi là làm cho vai nào, và có lấy đi gì của vai kia không.
Của MES LAB
Bài 2 của lớp này, nói mỗi vai chấm sản phẩm lúc nào và bằng thước đo gì. Bốn kiểu sai trong bài này đều là lúc một trong ba thước đo bị bỏ quên.
Lớp Vì sao sản phẩm mới thất bại — đọc kỹ các kiểu thất bại, mã SP-05, khi mở sẽ nói các kiểu thất bại nói chung. Bài này chỉ nói những kiểu sinh ra từ việc nhầm vai.
Bên ngoài
Trang hỏi đáp của Purina châu Âu, mục thành phần, câu hỏi về màu trong thức ăn cho chó, đăng trên purina.eu. Nguồn của ví dụ trong bài.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.