m.school › Người dùng, khách hàng và người mua — ba người khác nhau › bài 4
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Ở một nhà máy chuẩn bị mua máy mới, kỹ sư bảo trì không có quyền chốt nhưng là người viết bảng tiêu chí kỹ thuật. Theo khung năm vai, kỹ sư này đóng vai gì?
Người ảnh hưởng không quyết nhưng góp ý có trọng lượng bằng kiến thức chuyên môn, và thường là người viết bảng tiêu chí kỹ thuật. Xem mục 2.
Câu 2. Sản phẩm của bạn bị loại khỏi một lần mua trước khi có ai so sánh nó, vì tiêu chí được viết theo thông số của nhà cung cấp quen. Theo bài, lần sau nên làm gì?
Người lập tiêu chí và người lọc danh sách nhà cung cấp là người gác cổng. Việc của họ xảy ra sớm và ít ai thấy, nhưng quyết sản phẩm của bạn có được xét tới hay không. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Câu 3. Bạn đọc một tài liệu về mua hàng của doanh nghiệp và gặp chữ người mua. Theo bài, nên hiểu chữ đó thế nào?
Trong khung của Webster và Wind, người mua là người có thẩm quyền chọn nhà cung cấp và thương lượng, thường là phòng mua hàng. Việc chọn ở tổ chức nằm ở người quyết định, có góp ý của người ảnh hưởng. Xem mục 3.
Câu 4. Công nhân đứng máy thấy việc chỉnh máy mất nhiều thời gian, nhưng họ không ngồi trong cuộc họp chọn nhà cung cấp. Theo bài, người thiết kế nên làm gì để điều đó có trọng lượng?
Cái người dùng vướng hay rơi mất khi bị dịch sang chữ kỹ thuật. Khi lời người dùng được viết thành thứ ghi vào bảng tiêu chí được, nó mới có trọng lượng trong cuộc họp mà người dùng không có mặt. Xem mục 4.
Câu 5. Giám đốc nhà máy, người ký, nói rất tự tin rằng ông biết công nhân cần gì vì ông đi lên từ xưởng. Theo bài, nên xử lý lời này thế nào?
Người ký có thể hiểu đúng, nhưng có khi là hiểu cách đây nhiều năm. Nghe người ký thay cho người dùng chính là kiểu sai nghe người nói thay ở bài 3. Không cần gạt đi, mà kiểm lại. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy một sản phẩm mà công ty bạn bán cho một tổ chức, và một lần bán cụ thể gần đây. Nếu công ty bạn chỉ bán cho gia đình, hãy chọn một lần công ty bạn mua một thiết bị, và soi từ phía bên mua. Kẻ một bảng năm hàng theo năm vai. Ở mỗi hàng, ghi tên hoặc chức danh của người thật đã đóng vai đó, và ghi đội của bạn đã từng nói chuyện trực tiếp với người đó chưa. Cuối cùng, khoanh tròn vai nào đội chưa từng gặp.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng: mỗi hàng có ít nhất một người thật, ghi bằng tên hoặc chức danh cụ thể. Bạn chỉ ra được ai là người gác cổng, và họ đã lọc bằng tiêu chí gì. Có ít nhất một vai bạn phải ghi là chưa gặp, và bạn nói được vì sao. Dấu hiệu còn sai: cả năm hàng đều ghi đã gặp, nhưng thật ra chỉ gặp qua lời kể của người ký. Hoặc hàng người dùng chỉ ghi chung chung là công nhân, không có ai cụ thể.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: xe đẩy hàng bán cho kho của một công ty phân phối. Người dùng: công nhân kho ca đêm, đội chưa gặp ai. Người ảnh hưởng: trưởng kho, đã gặp hai lần, đã góp ý về tải trọng và bánh xe. Người mua theo nghĩa hẹp: chuyên viên phòng mua hàng, đã làm việc qua thư và điện thoại. Người quyết định: giám đốc vận hành, gặp một lần lúc chốt hợp đồng. Người gác cổng: phòng mua hàng, đã lọc theo tiêu chí giá và thời gian giao. Vai chưa gặp: người dùng. Việc làm tiếp: xin phép trưởng kho cho đứng xem một ca làm việc.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Ba bài trước nói về ba vai trong một lần bán, và phần lớn ví dụ là hàng bán cho gia đình. Bài này nói một trường hợp riêng mà nhiều công ty sản xuất ở Việt Nam gặp hằng ngày: bên mua là một tổ chức, như một nhà máy, một bệnh viện, một trường học, một chuỗi cửa hàng. Khi đó vai người mua không còn nằm trong một người, mà chia ra cho nhiều người, mỗi người một phần việc.
Chỗ khác thứ nhất là số người. Một gia đình mua nồi cơm điện thì thường một hoặc hai người quyết. Một nhà máy mua một dây chuyền thì có thể có năm, bảy người cùng tham gia, ở những phòng khác nhau.
Chỗ khác thứ hai là tiền. Ở một tổ chức, tiền trả không phải tiền riêng của người chọn. Người chọn vẫn phải lo giá, nhưng thứ họ lo nhiều hơn là trách nhiệm: nếu thiết bị hỏng, ai sẽ bị hỏi vì sao đã chọn nó. Vì vậy người chọn ở tổ chức thường nghiêng về phía ít rủi ro cho chính mình, chẳng hạn một nhà cung cấp quen, một thương hiệu nhiều nơi đã dùng, một mức giá dễ giải trình.
Chỗ khác thứ ba là giấy tờ. Một lần mua ở tổ chức thường đi qua các bước có văn bản: đề nghị mua, bảng tiêu chí, báo giá của nhiều nhà cung cấp, bảng so sánh, tờ trình, phê duyệt. Những gì không viết được vào các văn bản ấy thì rất khó ảnh hưởng tới quyết định.
Chỗ khác thứ tư là thời gian. Một lần mua có thể kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng, và những người tham gia vào đầu quá trình chưa chắc còn có mặt ở cuối.
Năm 1972, hai nhà nghiên cứu Frederick Webster và Yoram Wind công bố trên tạp chí Journal of Marketing một bài viết đề xuất một mô hình chung để hiểu việc mua hàng của tổ chức. Ý chính của họ là mua hàng ở tổ chức không phải quyết định của một người, mà là một quá trình ra quyết định của cả tổ chức, có nhiều người tham gia. Nhóm những người cùng tham gia vào một lần mua được gọi là nhóm cùng quyết một lần mua (buying center). Một số tài liệu khác gọi là đơn vị ra quyết định mua (decision-making unit).
Điều cần nhớ là nhóm này không phải một phòng ban có trên sơ đồ tổ chức. Nó chỉ hình thành cho một lần mua, gồm những ai có tiếng nói trong lần mua đó, rồi tan ra.
Khung của Webster và Wind gọi tên năm vai. Cũng như ở bài 1, đây là năm vai, không phải năm người. Một người có thể đóng nhiều vai, và không phải lần mua nào cũng có đủ năm vai.
Người dùng (user) là những người sẽ dùng sản phẩm sau khi tổ chức mua về: công nhân đứng máy, y tá dùng thiết bị, giáo viên dùng đồ dạy học. Họ thường là người đầu tiên thấy có việc cần mua, vì họ là người vướng.
Người ảnh hưởng (influencer) là những người không quyết nhưng góp ý có trọng lượng, thường bằng kiến thức chuyên môn. Ở nhà máy, đó hay là kỹ sư bảo trì, phòng kỹ thuật, phòng an toàn. Họ thường là người viết ra bảng tiêu chí kỹ thuật.
Người mua (buyer) trong khung này là người có thẩm quyền chính thức chọn nhà cung cấp và thương lượng điều khoản, thường là phòng mua hàng.
Người quyết định (decider) là người có quyền chốt lựa chọn cuối cùng. Với khoản mua nhỏ, người quyết định có thể chính là phòng mua hàng. Với khoản mua lớn, đó thường là giám đốc nhà máy hoặc ban giám đốc.
Người gác cổng (gatekeeper) là người kiểm soát thông tin và người bán nào được đi vào nhóm. Thư ký quyết cuộc gọi nào được nối máy, phòng mua hàng quyết nhà cung cấp nào được mời báo giá, phòng kỹ thuật quyết tài liệu nào được chuyển lên. Vai này ít được nhìn thấy, nhưng nó quyết sản phẩm của bạn có được xét tới hay không.
Một lần mua thường có thứ tự như sau. Người dùng thấy vướng và nêu ra. Người ảnh hưởng biến cái vướng thành tiêu chí. Người gác cổng lọc ra vài nhà cung cấp. Người mua lấy báo giá và thương lượng. Người quyết định ký. Thứ tự này không cố định, nhưng nó cho thấy một điều: lời của người dùng phải đi qua nhiều tay trước khi tới chỗ ký.
Bạn cần đặt ba định nghĩa của lớp cạnh khung của Webster và Wind một cách cẩn thận, vì hai bên dùng chữ người mua theo hai nghĩa khác nhau.
Khách hàng, theo định nghĩa của lớp, là bên công ty bạn xuất hoá đơn. Nếu bạn bán thẳng cho nhà máy thì khách hàng là chính nhà máy, tức cả tổ chức chứ không phải một người nào trong đó. Nếu bạn bán qua nhà phân phối thiết bị thì khách hàng là nhà phân phối, còn nhà máy là bên mua cuối. Khung năm vai mô tả những gì diễn ra bên trong bên mua cuối đó.
Người mua, theo định nghĩa của lớp, là người chọn và trả tiền. Ở một tổ chức, việc này bị tách làm hai. Việc chọn nằm ở người quyết định, có sự góp ý của người ảnh hưởng. Việc làm thủ tục mua và trả tiền nằm ở người mua theo nghĩa của Webster và Wind, tức phòng mua hàng. Còn tiền thì là tiền của tổ chức. Vì vậy, khi đọc tài liệu về mua hàng của doanh nghiệp, gặp chữ người mua thì bạn nên hiểu đó là phòng mua hàng, hẹp hơn nghĩa của lớp này.
Người dùng thì trùng nhau ở cả hai bên: người sẽ dùng sản phẩm hằng ngày.
Khung năm vai còn thêm hai vai mà ba vai của lớp chưa có tên: người ảnh hưởng và người gác cổng. Bài 1 đã nhắc qua một vai giống người ảnh hưởng, ở ví dụ đồ dùng học tập: nhà trường không dùng, không mua, nhưng bản kê đồ dùng mà trường đưa ra tác động thẳng tới lần mua. Ở tổ chức, hai vai này có sức nặng lớn hơn nhiều, vì bảng tiêu chí và danh sách nhà cung cấp được mời là hai thứ quyết sản phẩm nào còn ở lại trên bàn.
Hệ quả cho người thiết kế: với một sản phẩm bán cho tổ chức, đừng hỏi người mua là ai. Hãy hỏi năm câu, mỗi câu cho một vai, và chấp nhận rằng có câu sẽ chỉ ra hai, ba người.
Điều chúng tôi nói ở mục này là quan sát riêng, rút từ những lần làm việc với doanh nghiệp sản xuất trong nước. Nó chưa phải điều mà giới nghiên cứu đã kiểm chứng, nên bạn nên so với nơi mình đang làm trước khi tin.
Quan sát ấy như sau: trong một lần mua của tổ chức, người dùng thường là vai đông người nhất nhưng có tiếng nói nhỏ nhất. Họ ít khi ngồi trong cuộc họp chọn nhà cung cấp. Họ không viết bảng tiêu chí. Họ không gặp người bán. Cái họ vướng thường được người ảnh hưởng dịch sang chữ kỹ thuật, và trong lúc dịch, những thứ khó viết thành con số như máy có mỏi tay không, bảng điều khiển có dễ đọc không, chỉnh máy có mất nhiều thời gian không, thường rơi mất.
Hệ quả kéo về phía thiết kế như sau. Vì quyết định dựa vào bảng so sánh, sản phẩm được làm để thắng bảng so sánh: thông số cao hơn, giá thấp hơn, thời gian bảo hành dài hơn. Những chỗ chỉ người dùng thấy thì không có ô nào trong bảng để ghi, nên không giúp bán được hàng, và dần dần không ai đầu tư vào chúng.
Điều này không có nghĩa là người thiết kế phải bỏ qua bảng so sánh. Đó là cửa phải qua. Nhưng có hai việc làm được. Việc thứ nhất là đi gặp người dùng ở bên mua, dù họ không có quyền ký, để biết những gì sẽ rơi mất trong lúc dịch. Việc thứ hai là đưa những điều đó tới tay người ảnh hưởng dưới dạng họ dùng được: một con số đo được, như thời gian chỉnh máy, thời gian thay một chi tiết hay hỏng. Khi lời của người dùng được viết thành thứ ghi vào bảng tiêu chí được, nó mới có trọng lượng trong cuộc họp mà người dùng không có mặt.
Có một nơi việc cho người dùng một tiếng nói đã được ghi thành luật, và bạn tra lại được. Ngày 6 tháng 11 năm 2000, nước Mỹ ban hành đạo luật về an toàn và phòng tránh tổn thương do kim đâm (Needlestick Safety and Prevention Act). Theo đạo luật đó, cơ quan an toàn lao động Hoa Kỳ sửa tiêu chuẩn về mầm bệnh lây qua đường máu, bản sửa đăng công báo ngày 18 tháng 1 năm 2001. Tiêu chuẩn mới buộc cơ sở y tế phải hỏi ý kiến những nhân viên không giữ chức quản lý, trực tiếp chăm sóc người bệnh, khi tìm, đánh giá và chọn các loại kim và dụng cụ sắc an toàn hơn, rồi ghi việc hỏi ý kiến ấy vào văn bản. Văn bản sửa đổi nêu lý do: dụng cụ mới thường buộc nhân viên đổi thao tác, và sự tham gia của người làm trực tiếp giúp vượt qua những chỗ vướng đó. Nói theo khung năm vai, luật đã đưa người dùng vào nhóm cùng quyết một lần mua.
| Vai | Làm gì trong lần mua | Ở nhà máy thường là ai | Chấm sản phẩm bằng gì |
|---|---|---|---|
| Người dùng | dùng hằng ngày, thường là người nêu ra cái vướng | công nhân vận hành, tổ trưởng | dễ dùng, đỡ mệt, ít dừng máy |
| Người ảnh hưởng | góp ý chuyên môn, viết bảng tiêu chí | kỹ sư bảo trì, phòng kỹ thuật, phòng an toàn | thông số, dễ sửa, phụ tùng có sẵn |
| Người mua (nghĩa hẹp của khung) | chọn nhà cung cấp, lấy báo giá, thương lượng | phòng mua hàng | giá, điều khoản, hồ sơ đủ để giải trình |
| Người quyết định | chốt lựa chọn cuối cùng | giám đốc nhà máy, ban giám đốc | rủi ro, tổng chi phí, uy tín nhà cung cấp |
| Người gác cổng | lọc người bán và thông tin đi vào nhóm | phòng mua hàng, thư ký, phòng kỹ thuật | có trong danh sách đã duyệt không |
Khách hàng, theo định nghĩa của lớp, là cả tổ chức nếu bạn bán thẳng, hoặc là nhà phân phối nếu bạn bán qua trung gian.
Chỉ làm việc với người ký. Nhiều đội bán hàng và cả đội sản phẩm dồn sức vào người quyết định, vì đó là người có chữ ký. Người ta sai vì nghĩ thuyết phục được người cao nhất là đủ. Hậu quả rơi vào chính sản phẩm: nó có thể được chọn, nhưng khi về tới xưởng thì người dùng và người bảo trì không ủng hộ, máy bị dùng không hết sức, lời phàn nàn dồn lại, và lần mua sau không còn tên bạn. Cách tránh là vẽ đủ năm vai cho mỗi lần bán quan trọng, và ghi rõ đội đã gặp ai ở từng vai.
Tưởng người ký thì cũng biết người dùng cần gì. Người quyết định thường đã đi lên từ xưởng và tin rằng mình hiểu công việc ở đó. Có khi đúng, nhưng cách đây nhiều năm. Người ta sai vì người ký nói rất tự tin, và đội sản phẩm thấy dễ hơn khi chỉ phải nghe một người. Hậu quả rơi vào người dùng, vì sản phẩm được làm theo một hình dung đã cũ về công việc của họ. Đây chính là kiểu sai thứ tư ở bài 3: nghe người nói thay cho người dùng. Cách tránh là coi lời của người ký về người dùng là một giả thuyết, và kiểm lại bằng một buổi đứng xem ở xưởng.
Bỏ qua người gác cổng. Phòng kỹ thuật lập tiêu chí, phòng mua hàng lọc danh sách nhà cung cấp. Hai việc này xảy ra sớm và ít ai nhìn thấy. Người ta sai vì người gác cổng không có quyền chọn, nên trông như không quan trọng. Hậu quả là sản phẩm bị loại trước khi có ai so sánh nó, chỉ vì một tiêu chí được viết theo thông số của nhà cung cấp quen, hoặc vì công ty bạn chưa có trong danh sách đã duyệt. Cách tránh là tìm hiểu sớm tiêu chí được viết thế nào và danh sách nhà cung cấp được lập ra sao, rồi xem sản phẩm của bạn có đáp ứng được không, ngay từ lúc còn thiết kế.

Bối cảnh dưới đây hay gặp ở các nhà máy may tại Việt Nam. Nó được nêu ra để minh hoạ cách vẽ năm vai, không lấy từ một nhà máy có tên.
Khi một nhà máy may mua thêm máy may công nghiệp cho một chuyền mới, năm vai thường hiện ra khá rõ. Người dùng là công nhân may, người ngồi trước máy cả ca. Họ chấm máy bằng tiếng ồn, độ rung, độ êm của bàn đạp, việc thay chỉ có nhanh không. Người ảnh hưởng là tổ cơ điện, những người sẽ sửa máy. Họ quan tâm phụ tùng có sẵn không và máy có quen tay thợ không. Phòng mua hàng lấy báo giá và lọc nhà cung cấp, nên vừa là người mua theo nghĩa hẹp, vừa là người gác cổng. Người quyết định là giám đốc nhà máy.
Trong bối cảnh này, người dùng là vai đông người nhất, nhưng thường không có mặt ở bước nào của quá trình chọn máy.
Điều rút ra: nhìn một lần mua của tổ chức thì phải hỏi đủ năm câu, và để ý vai nào đông người nhưng không có ghế trong phòng họp.
Của MES LAB
Bài 3 của lớp này, nói về kiểu sai thứ tư là nghe người nói thay cho người dùng. Trong lần mua của tổ chức, kiểu sai này gần như luôn có mặt.
Lớp Phỏng vấn và quan sát người dùng, mã NC-02, sẽ dạy cách đi gặp và quan sát người dùng, kể cả khi họ không phải người ký.
Bên ngoài
"A General Model for Understanding Organizational Buying Behavior", Frederick E. Webster và Yoram Wind, tạp chí Journal of Marketing, tháng 4 năm 1972. Bài viết gốc đưa ra khung năm vai trong nhóm cùng quyết một lần mua.
"Organizational Buying Behavior", Frederick E. Webster và Yoram Wind, sách do Prentice-Hall xuất bản năm 1972. Bản trình bày đầy đủ hơn của cùng mô hình.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.