m.school › Các bước phát triển một sản phẩm mới › bài 1
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Mô tả công việc của một dự án ghi: dùng cách chấm điểm ý tưởng để chọn hướng. Theo bài, cách chấm điểm ý tưởng là gì?
Quy trình là trình tự các chặng, trả lời câu đi theo thứ tự nào. Kỹ thuật là cách làm cụ thể dùng bên trong một chặng, như cách phỏng vấn, cách chấm điểm ý tưởng, cách dựng mẫu nhanh. Xem mục 1.
Câu 2. Một chặng có đủ việc, kỹ thuật và đầu ra, nhưng không có ai được giao nhìn vào đầu ra rồi quyết. Theo bài, chuyện gì sẽ xảy ra?
Phần thứ năm của một chặng là người chịu trách nhiệm cuối: đúng một người quyết cho đi tiếp, làm lại, treo lại hay dừng. Thiếu phần này thì chặng không bao giờ thật sự kết thúc. Làm nhiều mà không biết trả lời câu gì là hậu quả của thiếu phần một. Xem mục 1.
Câu 3. Sau chặng thăm dò, công ty quyết không làm sản phẩm đã đề xuất. Theo bài, nên nhìn quyết định này thế nào?
Kết quả của chặng thăm dò là một trong ba lối: làm, chưa làm, hoặc không làm. Không làm cũng là một kết quả tốt. Xem mục 2.
Câu 4. Kế hoạch ghi hai tuần cho chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Hết hai tuần, đội có bản tổng hợp sáu nhu cầu, nhưng cả sáu đều chỉ đến từ phỏng vấn qua điện thoại, chưa ai tới nơi dùng để xem. Theo bài, chặng này đã xong chưa?
Lời khai chưa phải bằng chứng hiện trường, vì người ta thường nói điều họ nghĩ mình làm. Nhu cầu nào cũng chỉ có lời khai là dấu hiệu chặng chưa xong. Kết thúc chặng khi hết hạn là chỗ người ta hay làm sai. Xem mục 3 và «Chỗ người ta hay làm sai».
Câu 5. Đội mới nghĩ ra đúng một phương án và muốn làm mẫu ngay cho kịp. Theo bài, chặng tìm và chọn phương án còn thiếu gì?
Chỉ có một phương án từng được nghĩ ra là dấu hiệu chặng này chưa xong. Đầu ra của chặng gồm phương án đã chọn và lý do loại từng phương án khác. Bản vẽ chi tiết là việc của chặng sau. Xem mục 4.
Việc cần làm. Chọn một sản phẩm mà công ty bạn đang làm, nên chọn một sản phẩm chưa tới chặng làm mẫu. Kẻ một bảng ba dòng ứng với ba chặng đầu, và bốn cột. Cột một, viết câu hỏi của chặng bằng chữ của bạn, cho đúng sản phẩm này, không chép câu chung trong bài. Cột hai, ghi đầu ra của chặng đang có, kèm nơi nó nằm, tên tệp hoặc tên người giữ. Cột ba, ghi một kỹ thuật đội đã dùng trong chặng đó. Cột bốn, ghi tên người chịu trách nhiệm cuối của chặng. Cuối cùng, với chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, đếm xem trong các nhu cầu đội đang dựa vào, bao nhiêu nhu cầu có dẫn chứng thấy tận mắt, bao nhiêu chỉ có lời khai.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, câu hỏi ở cột một nhắc tới sản phẩm và nhóm người dùng cụ thể. Hai, mỗi đầu ra ở cột hai là một thứ mở ra đọc được. Ba, cột bốn là tên người, mỗi dòng đúng một tên.
Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, cột hai ghi một việc thay vì một thứ, kiểu đã họp xong hay đã khảo sát rồi. Hai, cột ba có kỹ thuật mà không nói được kỹ thuật đó giúp trả lời câu hỏi nào ở cột một. Ba, mọi nhu cầu đều chỉ có lời khai.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: một dòng bình giữ nhiệt cho học sinh. Chặng thăm dò: câu hỏi là có nên làm bình riêng cho học sinh tiểu học ở thành phố hay không. Đầu ra là một trang đề bài do phòng kinh doanh viết, người đứng đầu đã ký. Chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ: câu hỏi là phụ huynh và trẻ vướng gì khi dùng bình ở trường. Đầu ra là một bản tổng hợp sáu nhu cầu. Kỹ thuật là phỏng vấn phụ huynh qua điện thoại. Đếm lại thì sáu nhu cầu đều chỉ có lời khai, chưa ai tới trường xem trẻ mở bình. Chặng tìm và chọn phương án: chưa có đầu ra, vì đội mới có một phương án. Kết luận: chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ chưa xong, dù kế hoạch ghi là đã xong. Việc tiếp theo là đi quan sát vài giờ ăn ở trường trước khi dựng thêm phương án.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, đã nói một sản phẩm đi qua sáu chặng và cuối mỗi chặng phải ra thứ gì. Lớp này đi vào bên trong từng chặng. Bài này làm hai việc. Việc thứ nhất là nói một chặng được cấu tạo từ những phần nào. Việc thứ hai là đi qua ba chặng đầu, là ba chặng đi tìm đúng thứ cần làm, trước khi có ai cầm tới bản vẽ.
Có hai chữ hay bị dùng lẫn, và lẫn chúng là nguồn của nhiều cuộc tranh luận vô ích.
Quy trình (process) là trình tự các chặng phải đi qua, từ lúc có một ý nghĩ tới lúc có hàng bán được. Nó trả lời câu đi theo thứ tự nào. Kỹ thuật (technique) là cách làm cụ thể dùng bên trong một chặng, ví dụ cách phỏng vấn người dùng, cách chấm điểm ý tưởng, cách dựng mẫu nhanh. Nó trả lời câu trong chặng này thì làm bằng cách gì. Một chặng có thể dùng nhiều kỹ thuật. Một kỹ thuật có thể dùng ở nhiều chặng.
Một đội có thể giỏi rất nhiều kỹ thuật mà vẫn không có quy trình. Khi đó các kỹ thuật xảy ra cùng lúc và chồng lên nhau: người này đã vẽ trong khi người kia còn đang hỏi khách.
Mỗi chặng, dù trong mô hình nào, đều có năm phần:
1. Câu hỏi của chặng. Một câu mà chặng phải trả lời bằng căn cứ trước khi chặng sau được bắt đầu. 2. Các việc phải làm để có căn cứ trả lời câu đó. 3. Kỹ thuật dùng cho từng việc. 4. Đầu ra (deliverable): thứ còn lại khi chặng xong, mà người ngoài đội mở ra đọc được. 5. Người chịu trách nhiệm cuối (accountable): đúng một người, nhìn vào đầu ra rồi quyết cho đi tiếp, bắt làm lại, treo lại hay dừng.
Thiếu phần một thì đội làm nhiều mà không biết làm để trả lời câu gì. Thiếu phần năm thì chặng không bao giờ thật sự kết thúc.
Một chỗ cần nói trước để bạn khỏi lẫn. Lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01, chia sáu chặng theo cách của sách giáo trình Ulrich và Eppinger, nhìn từ đầu ra kỹ thuật. Lớp này dùng cách chia sáu chặng trong sách của chúng tôi, nhìn từ câu hỏi phải trả lời. Hai cách khác nhau chủ yếu ở phần đầu: chặng chọn việc đáng làm của lớp trước được tách thành hai chặng ở đây, là chặng thăm dò và chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ. Việc tách đó là quan điểm riêng của chúng tôi, vì đây là phần các công ty sản xuất trong nước hay bỏ nhất. Bài 3 sẽ cho thấy chia một con đường theo nhiều kiểu là chuyện bình thường.
Câu hỏi của chặng thăm dò thuần về chiến lược. Nó được trả lời bằng bàn bạc và tra cứu, chưa cần vẽ gì và chưa cần làm mẫu.
Việc thứ nhất là xem nỗi khó của người dùng có thật không. Căn cứ ở đây là dấu hiệu, không phải cảm hứng của người đề xuất. Dấu hiệu có thể là phản ánh lặp lại của khách, hàng bị trả về vì cùng một lý do, hay những cách người dùng đang tự chế để chữa một chỗ bất tiện.
Việc thứ hai là xem công ty có nên làm việc này không. Sách của chúng tôi gói việc này trong ba điều kiện phải cùng có. Người dùng thật sự cần. Công ty làm ra được trong tầm tay của mình. Và bán ra có lời. Ở chặng này chỉ cần biết sơ bộ cả ba điều kiện đều không bằng không. Điều nào chưa rõ thì ghi ra là chưa rõ.
Việc thứ ba là xếp loại dự án. Đổi màu bao bì và làm một dòng sản phẩm hoàn toàn mới không thể đi chung một quy trình. Xếp loại sớm thì biết dự án cần bao nhiêu chặng và bao nhiêu chỗ dừng. Bài 4 sẽ dạy cách xếp.
Việc thứ tư là ra quyết định. Kết quả của chặng thăm dò là một trong ba lối: làm, chưa làm, hoặc không làm. Chưa làm nghĩa là hoãn tới một mốc cụ thể, chờ một điều kiện đổi. Không làm cũng là một kết quả tốt. Nó cho thấy chặng này đã sàng được một việc không đáng làm trước khi tốn tiền vào đó.
Đầu ra là một đề bài viết trên một trang: làm cho nhóm người nào, giải việc gì của họ, vì sao công ty mình làm được. Kèm theo là quyết định có ghi tên người quyết và ngày quyết. Người chịu trách nhiệm cuối thường là người đứng đầu công ty, vì đây là quyết định chiến lược.
Chặng này thường ngắn. Sách giáo trình của chúng tôi ước chừng một tới hai tuần cho một dự án lớn.
Câu hỏi của chặng này có một chữ quan trọng, là bằng chứng hiện trường (field evidence). Đó là thứ thấy được ở nơi người ta dùng sản phẩm: họ làm gì, vướng ở đâu, tự chữa thế nào. Lời khai trong một cuộc khảo sát chưa phải bằng chứng hiện trường, vì người ta thường nói về điều họ nghĩ mình làm, không phải điều họ làm.
Việc thứ nhất là chọn đúng người để gặp. Người dùng, người mua và người trả tiền nhiều khi là ba người khác nhau. Lớp Người dùng, khách hàng và người mua — ba người khác nhau, mã SP-02, khi mở sẽ bàn kỹ chỗ này.
Việc thứ hai là quan sát và hỏi chuyện ngay tại nơi dùng. Đây là nơi kỹ thuật nhiều nhất. Cách quan sát và cách đặt câu hỏi sẽ được dạy ở lớp Phỏng vấn và quan sát người dùng, mã NC-02. Ở đây bạn chỉ cần biết việc này phải có, và phải làm tại chỗ chứ không qua bảng hỏi gửi đi.
Việc thứ ba là tổng hợp và xếp ưu tiên. Dữ liệu thô được gom thành các nhu cầu. Nhu cầu được xếp theo mức quan trọng, mỗi mức có lý do. Không phải nhu cầu nào cũng phải giải trong một sản phẩm.
Đầu ra gồm ba thứ. Một bản tổng hợp nhu cầu, mỗi nhu cầu có dẫn chứng từ dữ liệu thật. Một danh sách nhu cầu đã xếp ưu tiên. Và vài câu hỏi thiết kế đủ mở để chặng sau nghĩ ra được nhiều hướng khác nhau.
Chặng này xong khi nào là chỗ hay sai nhất. Sách giáo trình của chúng tôi nêu ba điều kiện phải cùng đúng. Đội mô tả được hai tới ba nhóm người dùng, kèm những khó khăn trích từ dữ liệu thật. Đội liệt kê được ít nhất năm nhu cầu đã xếp ưu tiên, có lý do. Và đội có ít nhất ba câu hỏi thiết kế đủ mở. Chưa đủ ba điều thì chưa xong, dù đã gặp bao nhiêu người hay đã hết bao nhiêu tuần.
Chặng này có một cặp chữ cần tách. Ý tưởng là một ý nghĩ về cách giải. Phương án (concept) là một mô tả đủ để người khác hình dung cùng một thứ: làm cho ai, giải việc gì, chạy theo nguyên lý nào, khác thứ đang có ở đâu. Từ ý tưởng tới phương án còn một khoảng việc. Làm mẫu từ một ý tưởng chưa thành phương án là cách tốn tiền nhanh nhất.
Việc thứ nhất là mở rộng rồi thu hẹp. Đội nghĩ ra thật nhiều ý tưởng, rồi sàng chặt bằng những tiêu chí đã viết ra từ trước. Viết tiêu chí trước là để việc chọn không bị kéo theo ý của người có tiếng nói lớn nhất trong phòng.
Việc thứ hai là dựng vài phương án và so với nhau. Thường là ba tới năm phương án, so trên cùng một bảng tiêu chí. Mỗi phương án bị loại phải có một dòng ghi vì sao.
Việc thứ ba là chốt những quyết định nền trước khi vẽ chi tiết. Sách giáo trình của chúng tôi liệt kê sáu quyết định. Nhóm người dùng chính là ai. Hai ba khó khăn nào được ưu tiên giải. Điểm khác biệt cốt lõi là gì. Phiên bản đầu gồm những tính năng nào. Giá thành mục tiêu là bao nhiêu. Và thành công được đo bằng con số nào, trong thời hạn nào.
Việc thứ tư là chuyển nhu cầu thành bản yêu cầu có số. Cách viết yêu cầu cho đo được là việc của lớp Từ điều khách muốn tới yêu cầu kỹ thuật đo được, mã KT-01. Cách lập bảng đối chiếu nhu cầu với thông số sẽ được dạy ở lớp Chuyển nhu cầu người dùng thành thông số kỹ thuật, mã KT-02, khi lớp ấy mở.
Đầu ra là phương án đã chọn, lời hứa của sản phẩm (value proposition) viết thành một hai câu, bản yêu cầu có số và ngưỡng đạt, giá thành mục tiêu, cùng lý do loại từng phương án khác. Chỗ dừng cuối chặng này là chỗ chốt hướng đi. Sau chỗ này tiền bắt đầu đổ vào mẫu và vào khuôn, nên đổi phương án từ đây trở đi đều tốn kém.
| Chặng | Câu hỏi của chặng | Việc chính bên trong | Đầu ra | Dấu hiệu chặng chưa xong |
|---|---|---|---|---|
| 1 · Thăm dò | việc này có đáng làm, có nên làm lúc này không | xem nỗi khó có thật không · soi ba điều kiện · xếp loại dự án · quyết định làm, chưa làm hay không làm | đề bài một trang · quyết định có tên người quyết và ngày quyết | đề bài chỉ là một câu nói miệng hoặc một tấm ảnh sản phẩm của người khác |
| 2 · Tìm hiểu người dùng tại chỗ | người dùng thật sự cần gì, có bằng chứng hiện trường chưa | chọn đúng người · quan sát và hỏi tại nơi dùng · tổng hợp và xếp ưu tiên | bản tổng hợp nhu cầu có dẫn chứng · danh sách ưu tiên · vài câu hỏi thiết kế mở | nhu cầu nào cũng chỉ dẫn được bằng lời khai, không có cái nào thấy tận mắt |
| 3 · Tìm và chọn phương án | phương án nào đủ chín để bỏ tiền làm mẫu | mở rộng rồi thu hẹp · so vài phương án · chốt sáu quyết định nền · viết yêu cầu có số | phương án đã chọn · lời hứa của sản phẩm · bản yêu cầu có ngưỡng · giá thành mục tiêu · lý do loại | chỉ có một phương án từng được nghĩ ra |
Bạn nên chụp lại bảng này. Cột cuối là thứ dùng được ngay: nó giúp bạn nhận ra một chặng đang được coi là xong trong khi thật ra chưa.
Coi ba chặng đầu là giấy tờ, nên làm cho nhanh để tới phần việc thật. Nhiều đội coi việc thật bắt đầu khi có bản vẽ. Ba chặng trước đó bị làm gọn trong một buổi họp. Người ta sai vì ba chặng này không ra vật cầm được, và ở nhiều xưởng tiến độ được đo bằng vật cầm được. Hậu quả rơi vào những người làm các chặng sau. Họ vẽ, làm mẫu, mở khuôn cho một đề bài chưa ai kiểm, và chỗ sai chỉ lộ ra khi hàng đã làm xong. Cách tránh là đo tiến độ của ba chặng đầu bằng đầu ra của chúng, ghi trong bảng tổng hợp, chứ không bằng số ngày đã trôi qua.
Học được một kỹ thuật rồi tưởng mình đã có quy trình. Một đội đi học về cách vẽ bản đồ hành trình của khách, rồi vẽ bản đồ đó cho mọi dự án. Bản đồ đẹp, nhưng không ai biết nó trả lời câu hỏi của chặng nào, và nó được dùng để quyết điều gì. Người ta sai vì kỹ thuật nhìn thấy được và học được trong một ngày, còn quy trình thì không. Hậu quả rơi vào công ty: tiền đi học đã bỏ ra, mà cách ra quyết định vẫn như cũ. Cách tránh là mỗi khi dùng một kỹ thuật, viết ra nó phục vụ câu hỏi của chặng nào. Không viết được thì kỹ thuật đó đang được dùng sai chỗ.
Kết thúc chặng tìm hiểu người dùng khi hết hạn, chứ không khi đủ bằng chứng. Kế hoạch ghi hai tuần cho việc gặp người dùng. Hết hai tuần, đội chuyển sang chặng sau, dù dữ liệu chưa nói rõ điều gì. Người ta sai vì mốc thời gian dễ đo, còn mức đủ bằng chứng thì phải có người phán. Hậu quả là sản phẩm ra đời không có điểm khác biệt thật, vì nó được nghĩ ra từ những nhu cầu chưa ai kiểm. Cách tránh là viết điều kiện xong của chặng ngay từ đầu, theo ba điều kiện ở mục 3, và để người chịu trách nhiệm cuối soi theo đúng ba điều đó.

Ví dụ dưới đây là một ca được chính hãng và nhiều tài liệu về thiết kế lấy người dùng làm gốc thuật lại, bạn tra được bằng tên sản phẩm.
Hãng đồ dùng nhà bếp OXO của Mỹ, đầu những năm 2000, tìm hiểu người dùng cho một chiếc cốc đong mới. Theo cách hãng thuật lại, khi được hỏi cốc đong có gì bất tiện, người dùng nói về tay cầm trơn và cốc dễ vỡ. Không ai nhắc tới chuyện đọc vạch chia. Nhưng khi được quan sát lúc đang đong, họ làm đi làm lại một động tác: rót một ít, cúi người xuống ngang mặt bàn để đọc vạch, rồi rót thêm. Chiếc cốc ra đời có một dải vạch nghiêng bên trong, để người dùng đứng thẳng nhìn từ trên xuống mà vẫn đọc được.
Nhìn theo bài này: nhu cầu làm nên điểm khác biệt của chiếc cốc chỉ lộ ra ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, và chỉ lộ ra qua quan sát. Lời khai không chứa nó.
Điều rút ra: bằng chứng hiện trường và lời khai là hai loại căn cứ khác nhau, và chặng này chỉ xong khi có loại thứ nhất.
Của MES LAB
Bài 2 của lớp Nghề phát triển sản phẩm gồm những việc gì, mã SP-01: sáu chặng ở mức tên gọi và đầu ra, và chuyện gì xảy ra khi nhảy qua một chặng. Nên đọc trước bài này nếu bạn chưa học.
Bài 2 của chính lớp này: ba chặng sau, từ phương án đã chọn tới hàng bán được.
Bên ngoài
"Product Design and Development", Karl Ulrich và Steven Eppinger — sách giáo trình trình bày các pha phát triển sản phẩm, có phần riêng cho việc tìm hiểu nhu cầu và chọn phương án.
"Winning at New Products", Robert G. Cooper — bàn kỹ vì sao những việc ở phần đầu dự án quyết định phần lớn kết quả của sản phẩm.
"The Art of Innovation", Tom Kelley — viết về cách một công ty thiết kế quan sát người dùng tại chỗ để tìm ra những nhu cầu mà người dùng không tự nói ra.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.