m.school › Các bước phát triển một sản phẩm mới › bài 2
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Mẫu của một sản phẩm đã chạy đúng, nhưng do chính tay người kỹ thuật làm, xưởng chưa làm thử lần nào. Theo bài, chặng làm ra mẫu chạy được đã xong chưa?
Câu hỏi của chặng này có hai vế: mẫu chạy được, và nhà máy làm ra được với vật liệu, máy móc, giá vốn trong tầm. Mẫu chỉ do tay người kỹ thuật làm là dấu hiệu chặng chưa xong. Thử với người dùng là việc của chặng kiểm chứng. Xem mục 1.
Câu 2. Kế hoạch thử một chiếc đèn bàn học ghi: cho vài nhân viên văn phòng của công ty mang đèn về dùng. Theo bài, phép thử này xếp vào đâu?
Người trong công ty không phải người dùng thật, trừ khi sản phẩm làm cho chính họ. Thử với người dùng thật là cho người dùng dùng ở chỗ của họ, theo cách của họ, ở đây là các gia đình có học sinh. Xem mục 2 và «Thử nhìn lại việc của mình».
Câu 3. Một đội định để việc thử hợp quy và xin chứng nhận tới sau khi đã có mẫu gần sản xuất. Theo bài, cách làm này có vấn đề gì?
Bài nhấn rằng thử hợp quy không nên để tới cuối, vì có quy chuẩn buộc đổi cả thiết kế. Ba loại thử trả lời ba câu khác nhau, loại này không thay được loại kia. Xem mục 2.
Câu 4. Theo bài, chỗ dừng để quyết nặng nhất nên đặt ở đâu so với lúc đặt làm khuôn và mua vật liệu số lượng lớn?
Đặt làm khuôn là một trong ba điểm mà từ đó tiền bỏ ra gần như không lấy lại được. Dù dự án nhỏ tới đâu, phải có một chỗ dừng để quyết ngay trước mỗi điểm này. Xem mục 4.
Câu 5. Sau mốc chốt thiết kế, đội đổi màu thân và chiều dài cần đèn bằng cách nhắn tin thẳng cho xưởng làm khuôn, vì mỗi thay đổi đều nhỏ. Theo bài, nên làm gì?
Thay đổi đi thẳng qua điện thoại hay tin nhắn làm không ai còn biết bản vẽ nào là bản đúng, và chi phí sửa khuôn cộng dồn mà không ai thấy tổng. Mọi thay đổi sau mốc chốt, dù nhỏ, phải đi qua đề nghị thay đổi. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Lấy một sản phẩm mà công ty bạn đang làm mẫu hoặc vừa đưa ra thị trường. Liệt kê mọi phép thử đã làm hoặc đã lên kế hoạch cho sản phẩm đó. Xếp từng phép thử vào một trong bốn nhóm: thử theo bản yêu cầu, thử với người dùng thật, thử hợp quy, chạy thử sản xuất. Sau đó trả lời ba câu. Nhóm nào đang trống? Mốc chốt thiết kế đã có chưa, được ghi ở đâu, và từ đó tới nay có thay đổi nào không đi qua đề nghị viết ra không? Sản phẩm trước đó của công ty có biên bản bài học không, và có việc nào trong đó đã được làm chưa?
Cách tự chấm. Ba dấu hiệu sau cho thấy bạn làm đúng. Một, mỗi phép thử chỉ thuộc một nhóm, và bạn nói được nó trả lời câu hỏi nào. Hai, bạn chỉ ra được một chỗ viết ra giấy cho mốc chốt thiết kế. Ba, bạn tìm thấy hoặc khẳng định được là không có biên bản bài học, chứ không đoán.
Ba dấu hiệu sau cho thấy bài làm còn sai. Một, bạn xếp việc cho người trong công ty dùng thử vào nhóm thử với người dùng thật. Người trong công ty không phải người dùng thật, trừ khi sản phẩm làm cho chính họ. Hai, mọi phép thử đều rơi vào nhóm thứ nhất mà bạn vẫn kết luận là đủ. Ba, bạn trả lời câu về mốc chốt bằng một ngày dự kiến thay vì một tờ giấy đã có.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: một mẫu đèn bàn học dùng bóng đèn điốt phát quang. Thử theo bản yêu cầu: độ rọi, nhiệt độ thân đèn, độ bền khớp gập. Thử với người dùng thật: chưa có, chỉ có vài nhân viên văn phòng mang về dùng. Thử hợp quy: đã đặt lịch với phòng thử. Chạy thử sản xuất: chưa có. Mốc chốt thiết kế: có ghi trong kế hoạch, nhưng sau đó đổi màu thân và đổi chiều dài cần đèn qua tin nhắn với xưởng làm khuôn. Biên bản bài học của mẫu đèn trước: không có. Kết luận: thiếu loại thử thứ hai và thiếu lô thử. Việc đầu tiên là đưa mẫu cho vài gia đình có học sinh dùng ở góc học thật, đồng thời ghi lại hai thay đổi vừa rồi thành đề nghị thay đổi có người duyệt.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bài trước đi qua ba chặng đầu, kết thúc ở chỗ một phương án được chọn và bản yêu cầu đã có số. Bài này đi tiếp ba chặng còn lại: làm ra mẫu chạy được, kiểm chứng, và đưa ra thị trường rồi đóng dự án. Mỗi chặng vẫn được soi theo năm phần đã học ở bài 1: câu hỏi, các việc, kỹ thuật, đầu ra, và người chịu trách nhiệm cuối. Mục cuối bài xét cả sáu chặng theo số tiền bỏ ra.
Câu hỏi của chặng này có hai vế, và vế sau hay bị quên. Mẫu phải chạy được. Và nhà máy phải làm ra được nó, với vật liệu, máy móc và giá vốn trong tầm.
Việc thứ nhất là thiết kế tổng thể. Sản phẩm được chia thành các khối, mỗi khối có chỗ ghép với khối khác được mô tả rõ. Với mỗi khối, đội quyết tự làm hay mua ngoài.
Việc thứ hai là thiết kế chi tiết. Đây là lúc ra bản vẽ có dung sai, chọn vật liệu, chọn nhà cung cấp cho chi tiết mua ngoài, và tính lại giá vốn dự tính.
Việc thứ ba là làm mẫu qua nhiều cấp. Mẫu không phải một thứ, mà là một chuỗi. Mẫu thô làm nhanh bằng vật liệu rẻ, để thử một ý. Mẫu chức năng để thử sản phẩm có chạy đúng nguyên lý không. Mẫu gần sản xuất làm bằng vật liệu và cách làm gần với lúc làm loạt, để thử xem xưởng làm ra có giống bản vẽ không. Mỗi cấp trả lời một câu khác nhau, nên bỏ qua một cấp là bỏ qua một câu hỏi.
Việc thứ tư là xem xét khả năng sản xuất cùng người của xưởng, trước khi bản vẽ được khoá. Cách thiết kế cho xưởng làm được và lắp được sẽ được dạy ở lớp Thiết kế để làm ra được và lắp được, mã KT-04, khi lớp ấy mở.
Trong chặng này có một mốc gọi là chốt thiết kế (design freeze). Đó là lúc bản vẽ được khoá lại trước khi đặt làm khuôn. Từ mốc này, mọi thay đổi đều tốn tiền thật, nên phải đi qua một đề nghị thay đổi viết ra giấy và có người duyệt. Bài 5 sẽ nói kỹ lúc nào thì nên mở lại thứ đã chốt.
Đầu ra là bộ hồ sơ kỹ thuật đủ để người khác làm ra được vật thật, mẫu gần sản xuất, giá vốn dự tính đã tính lại, và danh sách rủi ro còn mở. Người chịu trách nhiệm cuối thường là người phụ trách kỹ thuật của dự án, người ở gần bằng chứng nhất.
Nhiều đội gọi chung mọi việc ở chặng này là thử. Thật ra có ba loại thử, trả lời ba câu khác nhau, và loại này không thay được loại kia.
Loại thứ nhất là thử theo bản yêu cầu, trong tài liệu quốc tế gọi là kiểm tra xác nhận (verification). Nó trả lời câu sản phẩm có đạt đúng những con số đã viết không. Ví dụ chịu được bao nhiêu lần đóng mở, chạy được bao lâu, nặng bao nhiêu. Người ta hay tóm loại thử này là làm đúng sản phẩm như đã viết.
Loại thứ hai là thử với người dùng thật, gọi là xác nhận giá trị sử dụng (validation). Nó trả lời câu sản phẩm có giải đúng việc của người dùng không, khi họ dùng ở chỗ của họ, theo cách của họ. Cách hay gặp là đưa sản phẩm cho người dùng dùng thử tại nhà trong một thời gian. Loại thử này được tóm là làm đúng sản phẩm cần làm. Một sản phẩm có thể qua hết loại thứ nhất mà trượt loại thứ hai, vì bản yêu cầu đã bỏ sót một nhu cầu.
Loại thứ ba là thử hợp quy và xin chứng nhận theo các quy chuẩn bắt buộc của thị trường sẽ bán. Sách giáo trình của chúng tôi nhấn một điều: việc này không nên để tới cuối. Nó phải được tính từ lúc chọn phương án, vì có quy chuẩn buộc đổi cả thiết kế.
Cạnh ba loại thử là một việc nữa: chạy thử sản xuất (trial run). Đó là làm một lô nhỏ trên dây chuyền thật, với người thợ thật, để biết tỉ lệ hỏng và chỗ dễ sai trước khi làm loạt.
Đầu ra là kết quả thử đặt cạnh từng dòng của bản yêu cầu, kết quả dùng thử với người dùng, các chứng nhận cần có, kết quả lô thử, và một quyết định sẵn sàng ra thị trường có tên người quyết.
Chặng cuối có hai nửa. Nửa đầu là đưa hàng ra. Nửa sau là đóng dự án cho đúng cách, và nửa này hay bị bỏ nhất.
Việc thứ nhất là kế hoạch đưa ra thị trường: bán qua kênh nào, giá nào, ai cần được hướng dẫn trước, hàng lỗi được xử lý thế nào. Sản lượng thường được tăng dần chứ không làm đủ ngay từ đầu, để còn chỗ sửa nếu lô đầu lộ ra vấn đề.
Việc thứ hai là theo dõi số liệu sau khi bán, đối chiếu với tiêu chí thành công đã viết ra ở chặng tìm và chọn phương án. Không có tiêu chí viết từ trước thì không có gì để đối chiếu, và mọi kết quả đều có thể được gọi là thành công.
Việc thứ ba là buổi nhìn lại sau dự án (post-mortem). Sách giáo trình của chúng tôi đề nghị làm trong vòng hai tuần sau khi ra mắt, khi mọi người còn nhớ. Buổi này trả lời ba câu: điều gì xảy ra đúng như dự tính, điều gì lệch và vì sao, lần sau đổi gì trong cách làm. Câu thứ ba phải ra được việc cụ thể, có người nhận.
Việc thứ tư là đóng dự án chính thức: giao sản phẩm cho bộ phận vận hành hằng ngày, giải phóng người của dự án.
Đầu ra là kế hoạch đưa ra thị trường đã duyệt, số liệu sau bán đặt cạnh tiêu chí thành công, biên bản bài học có việc cụ thể, và quyết định đóng dự án. Người chịu trách nhiệm cuối của nửa đầu thường là người đứng đầu, vì đây là lần đặt cược lớn nhất của cả dự án.
Biên bản bài học chính là đầu vào cho chặng thăm dò của sản phẩm sau. Con đường vì thế đi vòng, không dừng ở chặng sáu.
Xét cả sáu chặng theo số tiền bỏ ra thì thấy tiền không được chi đều. Có ba điểm mà qua đó, phần lớn số tiền đã bỏ ra không lấy lại được nếu sau này phát hiện sai.
Điểm thứ nhất là lúc bắt đầu đầu tư nghiêm túc vào một phương án, tức là sau chặng thăm dò. Từ đây công ty bắt đầu trả lương cho người, thời gian và cơ hội làm việc khác.
Điểm thứ hai là lúc đặt làm khuôn và mua vật liệu với số lượng lớn, tức là sau mốc chốt thiết kế. Khuôn làm theo một bản vẽ. Bản vẽ đổi thì khuôn phải sửa, có khi phải làm lại.
Điểm thứ ba là lúc đưa ra thị trường. Từ đây có hàng tồn, có tiền quảng bá, và có một thứ không mua lại được: ấn tượng của khách về tên công ty.
Sách của chúng tôi nêu một nguyên tắc tối thiểu: dù dự án nhỏ tới đâu, phải có một chỗ dừng để quyết ngay trước mỗi điểm này, với một người đủ quyền nói dừng. Nguyên tắc này rút từ những dự án chạy một mạch từ ý tưởng tới sản xuất, trong đó lỗi ở chặng đầu cứ thế trôi xuống. Sách cũng nêu một quy tắc kinh nghiệm: sửa một lỗi ở bản vẽ tốn một đồng, khi đã có khuôn tốn mười, khi hàng đã ra thị trường tốn một trăm. Con số đó là ước lệ, mỗi ngành một khác, nhưng chiều tăng của nó đúng ở mọi ngành.
Điều này giải thích vì sao sách đề nghị người đứng đầu công ty trực tiếp quyết ở cả ba điểm này, và ở điểm đặt làm khuôn thì có thêm người giữ tiền của công ty cùng được hỏi. Đó là những chỗ công ty đặt cược nhiều tiền nhất. Còn cách tổ chức một chỗ dừng để quyết, ai ngồi và hỏi gì, sẽ được dạy ở lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, khi lớp ấy mở.
| Chặng | Câu hỏi phải trả lời | Những việc làm trong chặng | Thứ phải để lại | Dấu hiệu cho thấy chưa xong |
|---|---|---|---|---|
| 4 · Làm ra mẫu chạy được | phương án đã thành mẫu mà nhà máy làm ra được chưa | thiết kế tổng thể · thiết kế chi tiết · làm mẫu qua nhiều cấp · xem khả năng sản xuất · chốt thiết kế | hồ sơ kỹ thuật đủ để làm · mẫu gần sản xuất · giá vốn tính lại · rủi ro còn mở | mẫu chỉ do tay người kỹ thuật làm, xưởng chưa làm thử lần nào |
| 5 · Kiểm chứng | sản phẩm đã đạt để bán rộng chưa | thử theo bản yêu cầu · thử với người dùng thật · thử hợp quy · chạy thử sản xuất | kết quả thử cạnh từng dòng yêu cầu · kết quả dùng thử · chứng nhận · tỉ lệ hỏng của lô thử | chỉ có một loại thử, thường là loại thứ nhất |
| 6 · Đưa ra thị trường và đóng dự án | đưa ra thế nào, học được gì cho lần sau | kế hoạch đưa ra · theo dõi số liệu · buổi nhìn lại · giao cho vận hành | kế hoạch đã duyệt · số liệu cạnh tiêu chí thành công · biên bản bài học có việc cụ thể | đội đã sang dự án mới mà chưa có biên bản bài học |
Cột cuối của bảng này dùng được như một danh sách để soi nhanh một dự án đang ở nửa sau.
Coi mẫu chạy được là xong. Mẫu chạy, đo đủ các con số trong bản yêu cầu, đội báo sản phẩm đã sẵn sàng. Thứ bị bỏ qua là loại thử thứ hai, thử với người dùng thật ở chỗ của họ. Người ta sai vì hai loại thử nghe giống nhau, và vì loại thứ nhất làm được ngay trong phòng thí nghiệm, còn loại thứ hai phải đi ra ngoài và mất thời gian. Hậu quả rơi vào người mua: họ phát hiện chỗ vướng sau khi đã trả tiền, rồi tới bộ phận chăm sóc khách và bộ phận bán hàng. Cách tránh là ghi riêng hai cột trong kế hoạch thử, một cột cho thử theo bản yêu cầu và một cột cho thử với người dùng, và không cho qua chặng nếu cột thứ hai để trống.
Chốt thiết kế trên giấy, rồi vẫn sửa sau khi đã mở khuôn mà không qua ai. Mốc chốt thiết kế có ghi trong kế hoạch, nhưng sau mốc đó các thay đổi nhỏ vẫn được làm thẳng với xưởng làm khuôn, qua điện thoại. Người ta sai vì từng thay đổi trông rất nhỏ, và đi qua giấy tờ thì chậm. Hậu quả rơi vào người làm các chặng sau và vào giá vốn: không ai còn biết bản vẽ nào là bản đúng, và chi phí sửa khuôn cộng dồn mà không ai thấy tổng. Cách tránh là coi mọi thay đổi sau mốc chốt là một đề nghị thay đổi, dù nhỏ, ghi lại lý do và người duyệt.
Bỏ buổi nhìn lại vì đội đã sang việc mới. Hàng vừa ra, người của dự án được điều ngay sang dự án khác. Buổi nhìn lại bị hoãn mãi rồi thôi. Người ta sai vì buổi này không ra sản phẩm gì, và vì nó buộc mọi người nhắc lại những chỗ làm chưa tốt. Hậu quả rơi vào dự án sau: nó lặp lại đúng những lỗi cũ, vì bài học chỉ nằm trong đầu vài người. Cách tránh là đặt lịch buổi nhìn lại ngay trong kế hoạch đưa ra thị trường, và chỉ coi dự án đã đóng khi biên bản bài học có ít nhất một việc được giao cho một người.
Đây là một ca có thật, nhà báo Charles Duhigg thuật lại năm 2012. Bạn tra được bằng tên sản phẩm và tên tác giả.
Hãng Procter & Gamble của Mỹ làm ra Febreze, một dung dịch xịt khử mùi trên vải. Hoạt chất giữ lại phân tử gây mùi, và mùi mất đi thật. Xét theo bản yêu cầu, sản phẩm đã đạt.
Từ tháng 3 năm 1996, hãng bán thử ở vài thành phố trước khi bán rộng, và hàng bán chậm. Theo cách thuật lại đó, người của hãng tới tận nhà người dùng và thấy một điều bản yêu cầu không tính tới: người sống lâu trong một mùi thì không còn ngửi thấy mùi đó. Hãng đổi cách giới thiệu, gắn sản phẩm với mùi thơm ở bước cuối của việc dọn nhà, rồi mới bán toàn nước Mỹ từ năm 1998.
Nhìn theo bài này: chỗ hở chỉ lộ ra ở loại thử thứ hai, khi sản phẩm vào nhà người dùng thật, và hãng thấy nó trước khi bán rộng.
Điều rút ra: qua đủ phép thử theo bản yêu cầu chỉ chứng minh sản phẩm đúng với bản yêu cầu. Nó chưa chứng minh bản yêu cầu đúng với người dùng.
Của MES LAB
Bài 1 của chính lớp này: một chặng gồm năm phần nào, và công việc bên trong chặng thăm dò, chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, chặng tìm và chọn phương án.
Lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, hiện chưa mở. Khi mở, lớp đó sẽ dạy cách tổ chức một chỗ dừng để quyết: mỗi chỗ hỏi gì, ai quyết, và vì sao một chỗ dừng làm cho có thì còn tệ hơn không có.
Bên ngoài
Karl Ulrich và Steven Eppinger, sách "Product Design and Development" — có chương riêng về làm mẫu, nói mỗi loại mẫu dùng để trả lời câu hỏi gì.
Tiêu chuẩn ISO 9001, mục về thiết kế và phát triển — tách rõ việc kiểm tra xác nhận và việc xác nhận giá trị sử dụng, đọc để thấy hai loại thử này đã được ghi thành yêu cầu của hệ thống quản lý chất lượng.
Robert G. Cooper, sách "Winning at New Products" — bàn vì sao chỗ dừng để quyết phải đặt trước những khoản tiền lớn không lấy lại được.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.