m.school › Các bước phát triển một sản phẩm mới › bài 5
Mỗi câu bấm một phương án. Đúng hay sai và lời giải thích hiện ngay. Không lưu điểm, không ai xem kết quả của bạn.
Câu 1. Mẫu đã đạt mọi phép thử theo bản yêu cầu, nhưng người dùng thật vẫn vướng khi dùng. Theo bài, nên xử lý thế nào?
Mẫu trượt phép thử theo bản yêu cầu thì lỗi thường ở thiết kế, sửa được trong chặng. Mẫu đạt hết mà người dùng vẫn vướng thì lỗi ở bản yêu cầu, là việc của một chặng phía trước. Thêm phép thử mà bản yêu cầu không đổi là dấu hiệu đã quay sai chỗ. Xem mục 1 và bảng tổng hợp.
Câu 2. Ở chặng kiểm chứng, đội phát hiện người dùng không dùng sản phẩm theo cách đội tưởng. Theo bài, nên quay về chặng nào?
Nguyên tắc là quay về đúng chặng đã sinh ra giả định bị sai, không phải chặng ngay trước. Lùi về chặng làm mẫu rồi sửa mẫu chỉ là vá triệu chứng, giả định sai vẫn nằm trong bản yêu cầu. Xem mục 2.
Câu 3. Nhà cung cấp báo ngừng mã vải đã chọn cho một mẫu áo đã duyệt. Phòng mua hàng tự chọn một mã vải gần màu nhất và báo xưởng may tiếp, không ai quyết, không ghi lại. Theo bài, đây là gì?
Quay lại có chủ đích có bốn dấu hiệu: có quyết định quay lại, có đúng một người quyết, có lý do ghi ra, và có phạm vi. Chữa tại chỗ thiếu cả bốn. Lời giải mẫu của bài nói lẽ ra phải quay về chặng tìm và chọn phương án qua một đề nghị thay đổi. Xem mục 3.
Câu 4. Trong các buổi họp, kích thước sản phẩm đã chốt cứ bị đem ra bàn lại vì có người có tiếng nói lớn muốn đổi. Theo bài, nên đặt điều kiện gì để được mở lại?
Một quyết định bị mở lại liên tục làm dự án không lùi mà cũng không tiến. Một ý kiến mới, dù của người có tiếng nói lớn, chưa phải bằng chứng mới. Xem mục 3.
Câu 5. Đội quay lại một chặng, sửa xong rồi đi tiếp, nhưng không ai ghi vì sao đã quay lại. Theo bài, hậu quả hay gặp là gì, và nên làm gì?
Không ghi lý do thì dự án sau, hoặc chính dự án này vài tháng sau, phải tranh luận lại từ đầu. Ba dòng ghi lại cũng là đầu vào cho buổi nhìn lại sau dự án. Xem «Chỗ người ta hay làm sai».
Việc cần làm. Chọn lần gần nhất mà một dự án của công ty bạn phải đổi một thứ đã chốt. Viết ra bốn dòng. Dòng một: phát hiện là gì. Dòng hai: nó thuộc tín hiệu nào trong bốn tín hiệu ở mục 1. Dòng ba: giả định nào đã sai, và giả định đó được chốt ở chặng nào. Dòng bốn: thực tế đội đã quay về chặng nào, có ai quyết, có ghi lý do không. Cuối cùng so dòng ba với dòng bốn.
Cách tự chấm. Dấu hiệu làm đúng có ba. Một, dòng ba nêu được một giả định cụ thể, viết thành câu. Hai, chặng ở dòng ba là một trong sáu chặng của lớp, gọi đúng tên. Ba, bạn nói được dòng bốn khớp hay lệch dòng ba, và nếu lệch thì lệch bao nhiêu chặng.
Dấu hiệu còn sai cũng có ba. Một, dòng ba chỉ ghi thiết kế chưa tốt mà không nêu giả định. Hai, bạn coi mọi lần sửa trong chặng là một lần quay lại. Ba, không tìm thấy giấy tờ nào mà bạn vẫn ghi là đã có người quyết.
Lời giải mẫu. Sản phẩm: một mẫu áo sơ mi đồng phục đã duyệt, đã may mẫu. Phát hiện: nhà cung cấp báo ngừng mã vải đã chọn. Tín hiệu: ràng buộc bên ngoài đổi. Giả định sai: mã vải này sẵn có trong suốt thời gian làm loạt, chốt ở chặng tìm và chọn phương án. Thực tế: phòng mua hàng tự chọn một mã vải khác gần màu nhất và báo xưởng may tiếp, không có đề nghị thay đổi. Kết luận: lệch. Lẽ ra phải quay về chặng tìm và chọn phương án, chọn vải theo đủ tiêu chí như độ co, độ thoáng, giá, qua một đề nghị thay đổi mức vừa, rồi may lại mẫu và cho vài người mặc thử.
Bản chữ của video, để đọc lại hoặc tra cứu
Bốn bài trước nói con đường đi tới: sáu chặng, các mô hình, và cách chọn mô hình. Bài cuối nói chiều ngược lại. Dự án nào cũng có lúc phát hiện ra một điều làm lung lay thứ đã chốt ở phía sau. Lúc đó có ba câu phải trả lời: có phải quay lại không, quay lại tới đâu, và quay lại thế nào cho khỏi thành một vòng mở lại không có điểm dừng. Mục cuối bài gói lại cả lớp.
Không phải phát hiện nào cũng buộc phải quay lại. Một chi tiết lệch dung sai, một lỗi lắp ráp, thường được sửa ngay trong chặng đang làm. Quay lại chỉ cần thiết khi phát hiện đó làm sai một thứ mà chặng trước đã chốt. Có bốn tín hiệu hay gặp.
Tín hiệu thứ nhất là bằng chứng mới làm sai một giả định của chặng trước. Mỗi đầu ra của một chặng đứng trên vài giả định, ví dụ người dùng chủ yếu là phụ nữ trên bốn mươi tuổi, hay sản phẩm được dùng trong nhà. Khi bằng chứng mới cho thấy giả định đó sai, đầu ra dựng trên nó cũng không còn đứng vững.
Tín hiệu thứ hai là mẫu không đạt, và lỗi nằm ở bản yêu cầu chứ không nằm ở thiết kế. Cần tách hai trường hợp, đúng theo hai loại thử ở bài 2. Mẫu trượt phép thử theo bản yêu cầu thì lỗi thường ở thiết kế, sửa được trong chặng. Mẫu đạt mọi phép thử theo bản yêu cầu mà người dùng vẫn vướng thì lỗi nằm ở chính bản yêu cầu, và đó là việc của một chặng phía trước.
Tín hiệu thứ ba là một ràng buộc bên ngoài đổi. Nhà cung cấp ngừng một loại vật liệu. Một quy định mới cấm một chất. Một đối thủ ra sản phẩm làm điểm khác biệt của mình không còn khác. Đội không gây ra những thay đổi này, nhưng vẫn phải trả lời chúng. Ở các xưởng may gia công xuất khẩu tại Việt Nam, tín hiệu này hay đến từ phía bên đặt hàng. Đây là bối cảnh chung, không lấy từ xưởng nào: chủ nhãn bổ sung một chất vào danh sách hoá chất hạn chế của họ, và một loại vải hay một lớp hoàn tất đã chọn ở chặng trước không còn dùng được.
Tín hiệu thứ tư là dự án lộ ra nặng hơn loại đã xếp. Bài 4 đã dạy xếp loại bằng năm câu hỏi. Khi một câu trả lời đổi, ví dụ hoá ra cần khuôn mới, thì dự án phải được xếp lại và đi theo quy trình của loại mới. Sách giáo trình của chúng tôi nêu một luật nên giữ: được nâng loại, và nên nâng ngay. Còn hạ loại xuống nhẹ hơn thì phải rất thận trọng, và cần người đứng đầu duyệt.
Ba tín hiệu đầu đến từ bằng chứng. Tín hiệu thứ tư đến từ chính độ lớn của dự án. Điểm chung của cả bốn: chúng làm cho một thứ đã chốt ở phía sau không còn đúng.
Khi phải quay lại, phản xạ thường gặp là lùi một bước, về chặng ngay trước chặng đang đứng. Đó thường là chỗ sai.
Nguyên tắc là: quay về đúng chặng đã sinh ra giả định bị sai. Nếu người dùng không dùng sản phẩm theo cách đội tưởng, giả định đó sinh ra ở chặng tìm hiểu người dùng tại chỗ, dù phát hiện lộ ra ở chặng kiểm chứng. Lùi về chặng làm ra mẫu chạy được rồi sửa mẫu chỉ là vá triệu chứng. Giả định sai vẫn nằm nguyên trong bản yêu cầu, và nó sẽ sinh ra lỗi khác ở mẫu sau.
Để làm được việc này, đội cần biết giả định nào sinh ra ở chặng nào. Cách đơn giản nhất là ghi vài giả định chính ngay lúc qua mỗi cổng, cạnh đầu ra của chặng. Khi một phát hiện mới đến, đội dò ngược danh sách đó và tìm ra chặng gốc.
Quay về một chặng không có nghĩa là làm lại cả chặng đó và mọi chặng ở giữa. Đội chỉ làm lại phần dựng trên giả định bị sai. Sau đó soát các đầu ra ở những chặng sau, xem cái nào phụ thuộc vào phần vừa đổi. Cái nào phụ thuộc thì phải cập nhật. Cái nào không phụ thuộc thì giữ nguyên.
Vì sao phải chịu khó dò về đúng gốc? Bài 2 đã nói chi phí sửa tăng rất nhanh qua từng chặng. Quay về đúng gốc ngay lần đầu thì chỉ phải trả một lần. Vá ở chặng gần nhất thì thường phải trả nhiều lần, mỗi lần một ít, mà vẫn không hết lỗi.
Có một trường hợp đặc biệt. Đôi khi phát hiện mới làm sai giả định của chặng thăm dò: việc này không còn đáng làm nữa, hoặc không còn nên làm lúc này. Khi đó quay về chặng thăm dò có thể dẫn tới quyết định treo hoặc dừng dự án. Đó là một kết quả đúng, không phải thất bại. Tiếp tục đổ tiền vào một việc đã hết đáng làm mới là thất bại.
Sách của chúng tôi cho mỗi cổng bốn lối ra: đi tiếp, làm lại, treo, hoặc dừng. Sách nhấn một câu: lối làm lại là một vòng lặp có chủ đích, không phải thất bại. Một hạng mục chưa đạt ở cổng thì quay lại thu thêm bằng chứng, rồi mới xét lại.
Quay lại có chủ đích có bốn dấu hiệu. Có một quyết định quay lại. Có đúng một người quyết. Có lý do ghi ra. Và có phạm vi: làm lại phần nào, trong bao lâu.
Chữa tại chỗ thì thiếu cả bốn. Người thấy lỗi sửa ngay ở chặng mình đang đứng, không báo ai, không ghi lại. Cách này nhanh trong ngày hôm đó. Nhưng nó làm hồ sơ của các chặng trước không còn khớp với sản phẩm thật, và giả định sai ở gốc vẫn còn đó.
Sau mốc chốt thiết kế, quay lại có chủ đích mang một hình thức cụ thể: đề nghị thay đổi (change request) viết ra giấy. Sách giáo trình của chúng tôi chia đề nghị thay đổi theo ba mức. Mức nhẹ không đụng lịch các cổng và không đụng các thông số cốt lõi, người quản lý dự án tự quyết. Mức vừa đổi một vài thông số, chậm lịch chút ít, cần người phụ trách kỹ thuật và người phụ trách ngành hàng cùng duyệt. Mức nặng đổi định nghĩa cốt lõi của sản phẩm hoặc nhóm khách nhắm tới, cần người đứng đầu quyết, và có thể dẫn tới treo hoặc dừng dự án. Sách cũng nói thẳng: cần thay đổi là chuyện bình thường, là dấu hiệu dự án đang học từ thực tế. Điều nguy hiểm là thay đổi mà không đi qua giấy tờ nào.
Có một mặt ngược cũng là bệnh: một quyết định đã chốt bị mở lại liên tục. Mỗi buổi họp lại có người muốn bàn lại màu, lại kích thước, lại nhóm khách. Dự án không lùi hẳn về chặng nào, nhưng cũng không tiến được. Cách chữa là đặt một điều kiện để được mở lại: chỉ mở lại khi có bằng chứng mới thuộc một trong bốn tín hiệu ở mục 1. Một ý kiến mới, dù của người có tiếng nói lớn, chưa phải bằng chứng mới.
Lớp này đi qua năm bài. Bài 1 và bài 2 mở từng chặng ra thành năm phần: câu hỏi, các việc, kỹ thuật, đầu ra, người chịu trách nhiệm cuối. Bài 3 đặt sáu mô hình phát triển cạnh nhau theo giả định gốc. Bài 4 chọn mô hình theo chi phí sửa về sau và mức biết chắc, rồi chọn độ dày bằng năm câu hỏi. Bài 5 nói lúc nào phải quay lại, và quay về đâu.
Nếu chỉ giữ lại một ý từ cả lớp, chúng tôi đề nghị ý này: một chặng chỉ xong khi trả lời được câu hỏi của nó bằng căn cứ, và khi căn cứ đó đổi thì chặng ấy phải được mở lại một cách có chủ đích.
Lớp này có giới hạn. Nó nói cổng nằm ở đâu và vì sao, nhưng không dạy cách tổ chức một cổng. Nó nhắc bản yêu cầu nhiều lần, nhưng không dạy cách lập bảng đối chiếu nhu cầu với thông số. Nó nói về những khoản tiền không lấy lại được, nhưng không dạy cách tính tiền của từng quyết định. Và nó đặt tư duy thiết kế cạnh các mô hình khác, nhưng không dạy cách đưa tư duy thiết kế vào bên trong quy trình.
Bốn lớp sau sẽ lấp đúng bốn chỗ đó khi mở. Lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, sẽ dạy cách tổ chức cổng. Lớp Chuyển nhu cầu người dùng thành thông số kỹ thuật, mã KT-02, sẽ dạy cách lập bảng đối chiếu. Lớp Tính kinh tế của một sản phẩm, cho người làm kỹ thuật, mã SP-04, sẽ dạy phần tiền. Lớp Gắn tư duy thiết kế vào quy trình phát triển sản phẩm, mã AD-01, sẽ dạy cách đưa tư duy thiết kế vào đúng chặng.
| Loại phát hiện | Giả định bị sai sinh ra ở chặng | Quay về chặng | Dấu hiệu đã quay sai chỗ |
|---|---|---|---|
| Việc không còn đáng làm, vì thị trường hay đối thủ đổi | 1 · Thăm dò | thăm dò, có thể treo hoặc dừng | dự án vẫn chạy chỉ vì đã tốn tiền |
| Người dùng không dùng như đội tưởng | 2 · Tìm hiểu người dùng tại chỗ | tìm hiểu người dùng tại chỗ | chỉ sửa mẫu, không ai đi gặp lại người dùng |
| Mẫu đạt bản yêu cầu mà người dùng vẫn vướng | 2 hoặc 3, nơi bản yêu cầu được viết | nơi bản yêu cầu sinh ra | thêm phép thử mới mà bản yêu cầu không đổi |
| Phương án không đạt giá thành mục tiêu, hoặc vật liệu chính không còn | 3 · Tìm và chọn phương án | tìm và chọn phương án | ép xưởng giảm giá mà phương án giữ nguyên |
| Xưởng không làm ra được như bản vẽ | 4 · Làm ra mẫu chạy được | làm ra mẫu chạy được | sửa khuôn qua điện thoại, không có đề nghị thay đổi |
| Dự án lộ ra nặng hơn loại đã xếp | 1 · Thăm dò, lúc xếp loại | xếp lại loại, thêm cổng | vẫn chạy quy trình nhẹ dù đã có khuôn mới |
Cột cuối dùng được để tự soi: nếu thấy dấu hiệu ở cột đó trong dự án của mình, rất có thể đội đang vá ở chặng gần nhất thay vì quay về gốc.
Sợ quay lại vì trông như nhận sai. Đội đã báo chặng trước là xong, người đứng đầu đã duyệt. Giờ quay lại thì như thừa nhận lần duyệt đó sai. Người ta sai vì ở nhiều nơi, tiến độ được thưởng còn quay lại thì bị hỏi tội. Hậu quả rơi vào các chặng sau và vào người mua: giả định sai đi tiếp xuống tới khuôn và tới kệ hàng, nơi sửa đắt hơn nhiều. Cách tránh là coi làm lại là một lối ra chính thức của mỗi cổng, ngang với đi tiếp, và ghi nhận người phát hiện sớm chứ không trách người đã duyệt.
Quay lại một bước thay vì quay về đúng chặng sinh ra lỗi. Mẫu bị người dùng chê, đội lùi về chặng làm mẫu và làm mẫu mới, rồi mẫu mới cũng bị chê. Người ta sai vì chặng ngay trước là chặng đội đang nắm rõ nhất, và quay về đó thì không phải đụng tới thứ của người khác. Hậu quả rơi vào tiến độ: dự án chạy nhiều vòng mà chỗ sai gốc không đổi. Cách tránh là trước khi quay lại, hỏi một câu: giả định nào đã sai, và nó được chốt ở chặng nào. Quay về đúng chặng đó.
Quay lại mà không ghi lý do. Đội quay lại, sửa xong, đi tiếp, nhưng không ai ghi vì sao đã quay lại. Người ta sai vì lúc đó ai cũng hiểu, nên ghi ra có vẻ thừa. Hậu quả rơi vào dự án sau, hoặc chính dự án này vài tháng sau: có người mới vào, đề nghị đúng phương án đã bị bỏ, và cả đội tranh luận lại từ đầu. Cách tránh là mỗi lần quay lại ghi ba dòng: phát hiện gì, giả định nào sai, đã quay về chặng nào và đổi gì. Ba dòng đó cũng là đầu vào tốt cho buổi nhìn lại sau dự án ở bài 2.
Đây là một nghiên cứu có thật của Đại học Leeds ở Anh và Đại học Stockholm ở Thuỵ Điển, đăng năm 2019 trên tạp chí Journal of Cleaner Production.
Nhiều áo khoác đi mưa dùng lớp phủ chứa hợp chất flo để đẩy nước. Các hợp chất này đang bị siết dần vì lo ngại cho môi trường. Cách nghĩ thường gặp là tìm lớp phủ thay thế đạt đúng bản yêu cầu cũ, gồm cả đẩy được dầu và vết bẩn, mà lớp phủ không chứa flo thì không đạt mục đó.
Nhóm nghiên cứu làm khác. Họ thử các lớp phủ với nhiều loại chất lỏng, và hỏi khoảng ba trăm người dùng áo ngoài trời. Kết quả: người dùng thông thường chủ yếu cần chống nước mưa và độ bền, và lớp phủ không chứa flo khá nhất đẩy nước ngang lớp phủ có flo mạch ngắn. Riêng quần áo bảo hộ y tế thì vẫn cần chống dầu và dịch cơ thể.
Nhìn theo bài này: tín hiệu là ràng buộc bên ngoài, nhưng chặng phải quay về là nơi bản yêu cầu được viết, không phải chặng chọn vật liệu.
Điều rút ra: khi một ràng buộc đổi, hãy hỏi lại yêu cầu trước khi đi tìm vật liệu thay thế.
Của MES LAB
Bài 2 của chính lớp này: hai loại thử, mốc chốt thiết kế, và vì sao chi phí sửa tăng nhanh qua từng chặng.
Lớp Quy trình và cổng duyệt trong phát triển sản phẩm, mã TC-02, hiện chưa mở. Khi mở, lớp đó sẽ dạy cách một cổng ra quyết định làm lại, treo hay dừng.
Bên ngoài
S. Schellenberger và các cộng sự, "Highly fluorinated chemicals in functional textiles can be replaced by re-evaluating liquid repellency and end-user requirements", tạp chí Journal of Cleaner Production, năm 2019 — nghiên cứu trong phần ví dụ, đọc để thấy cách quay về bản yêu cầu khi một vật liệu bị siết.
Robert G. Cooper, sách "Winning at New Products" — sách của người đặt ra mô hình có cổng, bàn về các quyết định ở mỗi cổng.
Thấy bài này có ích cho ai, gửi cho người đó.